TÂM THẦN PHÂN LIỆT

1. ĐẠI CƯƠNG
Tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm thần nặng, nguyên nhân đến nay vẫn còn chưa được biết rõ, thường có tiến triển từ từ, có xu hướng tiến triển thành mạn tính. Rối loạn có bệnh cảnh lâm sàng biểu hiện bằng các triệu chứng dương tính và âm tính. Các triệu chứng dương tính bao gồm: hoang tưởng, ảo giác và kích động. Các triệu chứng âm tính thể hiện sự sa sút các mặt hoạt động tâm thần bao gồm: cảm xúc thờ ơ, bàng quan, mất ham thích, trí tuệ giảm, tư duy và ngôn ngữ nghèo nàn, các triệu chứng thu mình và cách ly xã hội. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh nhân tâm thần phân liệt có thể gây nguy hiểm cho bản thân và những người xung quanh do các triệu chứng của bệnh như các hành vi tấn công, giết người, tự sát do hoang tưởng, ảo giác và hành vi xung động.
Rối loạn thường khởi phát ở lứa tuổi từ 15 – 35, với tỷ lệ hiện mắc khoảng 0,3 – 1% dân số. Tỷ lệ bị bệnh ở nam và nữ là 1:1, tuy nhiên nữ thường có khởi phát muộn và tiên lưọng nhẹ hơn nam.
Hiện nay, mặc dù chưa có phương pháp nào có thể điều trị lành hẳn tâm thần phân liệt, nhưng nếu phát hiện sớm và được điều trị thích hợp, các triệu chứng của tâm thần phân liệt sẽ được kiểm soát và hầu hết bệnh nhân tâm thần phân liệt có thể hòa nhập được với cộng đồng và lao động ở mức độ nhất định.

Hãy liên hệ với PKBSCK2 Nguyễn Văn Cầu để được khám và điều trị sớm:
– Bác sĩ uy tín, nhiều kinh nghiệm – Không cần đi lại nhiều (khám bệnh online)
– Chọn bác sĩ thăm khám theo yêu cầu – Chăm sóc, tư vấn, trị liệu đến khi khỏi bệnh
– Chi phí hợp lí – Tiết kiệm thời gian
GẶP BÁC SĨ 0913.941.291

2. LỊCH SỬ
– Tâm thần phân liệt được mô tả trong y văn từ thế kỷ XVIII.
– Năm 1857, nhà tâm thần học người Pháp B.A Morel lần đầu tiên mô tả một loại bệnh tâm thần thường khởi phát ở người trẻ tuổi và thường dẫn đến sa sút, ông đã gọi bệnh này là “mất trí sớm” (Dementia Praecox).
– Năm 1863, nhà tâm thần học người Đức K.L.Kalhbumn đã mô tả một rối loạn tâm thần khởi phát ở người trẻ tuổi, thường có tiến triển mạn tính mà một học trò của ông là Hecker sau này đã đặt tên cho nó là “bệnh thanh xuân” (Hebephrenia).
– Năm 1874, K.L.Kalhbumn lại mô tả một dạng khác của bệnh này được biểu hiện chủ yếu bằng các triệu chứng của rối loạn vận động mà ông đã gọi dưới tên “căng trương lực” (Catatonia).
– Năm 1898, nàh tâm hoạc Đức E. Kraeplin thống nhất các thể bệnh độc lập được các tác giả trên mô tả lại thành một bệnh riêng biệt, gọi tên là bệnh “mất trí sớm”.Ông cũng chia bệnh này làm 4 thể là đơn thuần, căng trương lực, Paranoid và thanh xuân.
– Năm 1911, E.Bleuler gọi rối loạn này là “Tâm thần phân liệt” bởi vì ông nhận thấy rằng các biểu hiện chủ yếu của nó là sự chia cắt cảu các mặt hoạt động tâm thần. Thuật ngữ này đã được các nhà tâm thần học và các trường phái tâm thần học chấp nhận và sử dụng cho đến ngày nay
3. NGUYÊN NHÂN
Nguyên nhân của tâm thần phân liệt đến nay vẫn chưa được biết rõ nhưng khi nghiên cứu về tâm thần phân liệt các tác giả đã đưa ra các giả thuyết giải thích về nguyên nhân của rối loạn này như sau:
3.1. Thuyết di truyền
Các nghiên cứu về tỷ lệ mắc tâm thần phân liệt trong gia đình và ở những cặp sinh đôi đã khẳng định được vai trò của yếu tố di truyền trong căn bệnh của tâm thần phân liệt. Theo tác giả L.Gordon nếu trong gia đình cả 2 bố mẹ đều bị tâm thần phân liệt thì nguy cơ mắc rối loạn này ở con là 15 – 55%
Nghiên cứu ở những cặp sinh đôi cùng trứng cho thấy nếu người này bị tâm thần phân liệt thì nguy cơ bị tâm thần phân liệt ở ngưòi kia là 40 – 55%, trong khi đó tỷ lệ này ở những cặp sinh đôi khác trứng là 10 – 14%.
3.2. Sự biến đổi về cấu trúc và chức năng của não
Bằng các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính (CTScan), cộng hưởng từ (MRI) não các nhà nghiên cứu nhận thấy ở những bệnh nhân tâm thần phân liệt có hiện tượng tăng thể tích não thất bên, các rãnh não dãn rộng và teo não đặc biệt là ở vùng trán. Các cấu trúc ở vùng hệ thống viền như hồi cá ngựa, thể hạnh nhân cũng giảm thể tích.
Bằng phương pháp chụp cắt lớp phát xạ Positron (PET) và phát xạ photon đơn (SPECT) thấy có hiện tượng giảm hoạt thùy trán.
3.3. Giả thuyết về các chất dẫn truyền thần kinh
– Dopamin: sự tăng hoạt của dopamin ở vùng trung viền (mesolimbic) thường tạo ra các triệu chứng dương tính ở bệnh nhân tâm thần phân liệt, ngược lại sự giảm hoạt của dopamin ở vùng trán trước thường gây ra các triệu chứng âm tính. Hơn nữa, sự ra đời của các thuốc an thần kinh là những thuốc đối vận với dopamin và hiệu quả điều trị của nó trong tâm thần phân liệt đã chứng minh cho vai trò của dopamin.
– Serotonin: Khi khảo sát nồng độ của serotonin trong dịch não tủy của bệnh nhân tâm thần phân liệt, các tác giả nhận thấy nồng độ của serotonin và các chất chuyển hóa của nó tăng ở những bệnh nhân tâm thần phân liệt mạn tính và giảm ở những bệnh nhân bị tâm thần phân liệt cấp tính.
– Ngoài ra còn có các chất khác có liên quan đến tâm thần phân liệt như GABA (Gama Amino Butyric Acid), MAO (Mono Amino Oxydase)…
3.4. Các giả thuyết khác: Thuyết nhiễm virus chậm, thuyết miễn dịch, các yếu tố về tâm lý xã hội…cũng tham gia vào vai trò bệnh sinh của tâm thần phân liệt.
4. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
4.1. Giai đoạn khởi phát
Giai đoạn khởi phát (onset phase) hay còn gọi là giai đoạn tiền triệu (prodromal phase) là khaỏng thời gian từ khi xuất hiện các dấu hiệu hay các triệu chứng ban đầu cho đến lúc xuất các triệu chứng đặc trưng của tâm thần phân liệt đủ tiêu chuẩn chẩn đoán. Không phải tất cả các bệnh nhân đều có giai đoạn tiền triệu nhưng đa số bệnh nhân có trải qua giai đoạn này. Giai đoạn này có thể chỉ kéo dài vài ngày nhưng cũng có thể kéo dài đến nhiều năm so với các biểu hiện tương đối đa dạng. Các tác giả Hafner, Hambrecht và cs (1994) khi nghiên cứu về giai đoạn tiền triệu ở các bệnh nhân TTPL đã liệt kê những triệu chứng ban đầu theo thứ tự giảm dần về tần suất bao gồm:
– Giảm tập trung chú ý
– Giảm ý chí, động cơ, mất sinh lực
– Khí sắc trầm
– RL giấc ngủ
– Lo âu
– Thu mình
– Đa nghi
– Giảm các chức năng nghề nghiệp, học tập, xã hội
– Dễ bị kích thích
Ngoài ra theo y văn và các nghiên cứu của các tác giả khác, giai đoạn khởi phát của TTPL còn biểu hiện bởi các dấu hiệu và triệu chứng khác như:
– Có những hành vi dị kỳ, hành vi hai chiều hay do dự
– Thay đổi nhận cảm về bản thân, thế giới và con người xung quanh biểu hiện bằng các triệu chứng của giải thể nhân cách và tri giác sai thực tại.
– Than phiền về nhiều triệu chứng cơ thể
– Các triệu chứng ám ảnh cưỡng bức
– Tư duy trừu tượng, bí hiểm, quan tâm đặc biệt đến triết học, tôn giáo
– Tư duy ngắt quãng, lịm dần
Trần Như Minh Hằng, Võ Văn Hòa Bình (2008) nghiên cứu trên 50 bệnh nhân tâm thần phân liệt tại khoa tâm thần BV Trung Ương Huế nhận thấy trong giai đoạn khởi phát bệnh nhân có các biểu hiện như sau
Các triệu chứng n %
Mất ngủ 38 76,0
Giảm sút khả năng học tập, làm việc 34 68,0
Thay đổi tính tình, cáu gắt 27 54,0
Đau đầu 21 42,0
Các biểu hiện khác (mau quên, do dự) 17 34,0
Không muốn tiếp xúc 13 26,0
Mệt mỏi, thụ động 12 24,0
Than phiền về các triệu chứng cơ thể 7 14,0
Quan tâm đặc biệt đến triết học tôn giáo 4 8,0

4.2. Giai đoạn toàn phát: Trong giai đoạn này các triệu chứng dương tính, âm tính xuất hiện rầm rộ thể hiện qua các rối loạn tư duy, cảm xúc, hành vi, tri giác…
4.2.1 Rối loạn tư duy: biểu hiện bằng các triệu chứng sau:
a. Hình thức: nói một mình, trả lời bên cạnh, đáp lặp lại, dòng tư duy bị lịm dần, ngắt quãng, tư duy dồn dập, bịa từ mới, giả giọng, ngôn ngữ nghèo nàn…
b. Nội dung:
– Tư duy không liên quan, quá trình liên tưởng rời rạc.
– Tư duy trừu tượng, bí hiểm, lý luận xa rời thực tế.
– Hoang tưởng: Trong tâm thần phân liệt có thể gặp nhiều chủ đề hoang tưởng như: hoang tưởng bị hại, hoang tưởng liên hệ, ghen tuông, hoang tưởng bị xâm nhập…Nhưng chủ đề của hoang tưởng đặc trưng của tâm thần phân liệt thường là hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối.
4.2.2 Rối loạn cảm xúc: Những bệnh nhân tâm thần phân liệt có thể có cảm xúc không thích hợp, cảm xúc hai chiều, trái ngược, mất thích thú, cảm xúc cùn mòn, thờ ơ, bàng quan.
4.2.3 Rối loạn hành vi: Biểu hiện bằng các đặc điểm sau:
– Hành vi hai chiều, các hành vi dị kỳ khó hiểu, các cơn xung động
– Hành vi tác phong căn trương lực: nhại lời, nhại động tác, động tác định hình, có các triệu chứng giữ nguyên dáng, uốn sáp, gối không khí…
– Hành vi không có mục đích, lười nhác, vệ sinh cá nhân cũng không chú ý đến.
4.2.4 Rối loạn tri giác: Bệnh nhân có thể có nhiều loại ảo giác khác nhau: ảo thanh, ảo thị, ảo vị, ảo khứu, ảo giác xúc giác và ảo giác bản thể. Ảo vị và ảo khứu thường đi kèm với hoang tưởng bị đầu độc. Ảo giác đặc trưng cho tâm thần phân liệt là các ảo giác giả chủ yếu là ảo thanh giả là một thành phần chủ yếu của hội chứng tâm thần tự động
4.3 Biểu hiện lâm sàng theo ICD 10 đặc trưng trong tâm thần phân liệt: (International Classification of Diseases 10th Edition)
Theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần thì tâm thần phân liệt biểu hiện bằng các nhóm triệu chứng sau:
4.3.1.Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt, tư duy bị đánh cắp hoặc tư duy bị phát thanh.
4.3.2. Ý tưởng hoang tưởng bị chi phối hay bị động liên quan đến vận động thân thể hay các chi, hoặc với ý nghĩ, hành vi hoặc cảm giác nào đó hoặc tri giác hoang tưởng.
4.3.3. Ảo thanh với một hay nhiều giọng nói bình luận về hành vi của bệnh nhân hoặc nói chuyện với nhau, hay các loại ảo thanh khác với một hoặc nhiều giọng nói xuất phát từ một bộ phận nào đó của cơ thể.
4.3.4. Các loại hoang tưởng dai dẳng khác mà không thích hợp về mặt văn hóa, tôn giáo, chính trị hoặc những quyền lực siêu nhiên (ví dụ có thể điều khiển thời gian, thời tiết hoặc giao tiếp với người ngoài trái đất).
4.3.5. Ảo giác dai dẳng bất kỳ loại nào, kèm với những ý tưởng hoang tưởng thoáng qua hoặc vừa mới hình thành không chứa những sự kiện cảm xúc. Hoặc những ý tưởng quá dai dẳng hay ảo giác xuất hiện hằng ngày trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng liên tục.
4.3.6. Dòng tư duy bị gián đoạn hay bị biến đổi do thêm từ khi nói dẫn đến tư duy thiếu liên tục và ngoài lê hoặc bịa từ
4.3.7. Hành vi căng trương lực: Kích động, giữ nguyên dáng, uốn sáp, phủ định không nói hoặc sững sờ.
4.3.8. Những triệu chứng âm tính: vô cảm, ngôn ngữ nghèo nàn, cảm xúc cùn mòn hoặc đáp ứng cảm xúc không thích hợp (những triệu chứng này làm bệnh nhân không hòa nhập được với xã hội và làm biến đổi các chức năng xã hội). Những triệu chứng này phải rõ ràng là không do các thuốc an thần kinh hoặc do trầm cảm gây ra.
4.3.9. Những biến đổi toàn diện kéo dài và đáng kể một vài khía cạnh của hành vi biểu hiện bằng sự mất thích thú, hành vi không có mục đích, thái độ vị ngã và cách ly xã hội
5. CHẨN ĐOÁN
5.1. Chẩn đoán bệnh: Theo bảng phân loại bệnh quốc tế về các rối loạn tâm thần lần thứ 10, tâm thần phân liệt được sếp ở mục F20 và đựoc chẩn đoán theo tiêu chuẩn sau:
* Về mặt triệu chứng:
– Phải có ít nhất 1 trong số các nhóm triệu chứng từ 4.3.1 đến 4.3.4 nếu các triệu chứng biểu hiện rõ rang phải có ít nhất 2 nhóm triệu chứng trong nhóm từ 4.3.1 đến 4.3.4. Hoặc :
– Có ít nhất 2 trong số các triệu chứng từ 4.3.5 đến 4.3.9.
* Về mặt thời gian :
– Các triệu chứng trên phải xuất hiện kéo dài ít nhất là một tháng, thời gian một tháng này kể từ khi các triệu chứng xuất hiện rõ rệt, thời gian này không tính đến thời gian có các triệu chứng tiền triệu như đau đầu, mất ngủ, lo âu…
– Nếu các triệu chứng trên xuất hiện trong khoảng thời gian dưới 1 tháng thì chẩn đoán là rối loạn thần cấp giống tâm thần phân liệt.
* Các tiêu chuẩn loại trừ :
– Không có các triệu chứng của một giai đoạn hưng cảm hay trầm cảm rõ rệt xuất hiện đồng thời với các triệu chứng của tâm thần phân liệt.
– Các triệu chứng được liệt kê trong mục từ 4.3.1 đến 4.3.9 phải rõ rang là không do các bệnh của cơ thể, bệnh lý não hoặc do tình trạng nhiễm độc rượu, nghiện ma tuý hoặc do sử dụng các độc chất khác gây ra.
5.2 Chẩn đoán thể bệnh : theo ICD10 tâm thần phân liệt gồm có các thể sau :
5.2.1 Thể Paranold (F20.0)
– Đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt.
– Bệnh cảnh lâm sang nổi bật bởi các triệu chứng hoang tưởng và ảo giác.
– Trong bệnh cảm lâm sang các triệu chứng như cảm xúc cún mòn, cảm xúc không thích hợp, các triệu chứng căng trương lực không nổi trội.
5.2.2 Thể thanh xuân (F20.1)
– Đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt.
– Có một trong hai triệu chứng sau :
+ Cảm xúc hời hợt hoặc cùn mòn biểu hiện rõ rệt và ổn định.
+ Cảm xúc không thích hợp hoặc lố lăng nổi trội và ổn định
– Có một trong hai triệu chứng sau :
+ Hành vi không có mục đích và lộn xộn.
+ Rối loạn dòng tư duy biểu hiện bằng ngôn ngữ lộn xộn, rời rạc hoặc không liên tục.
– Trong bệnh cảnh lâm sàn có thể có hoang tưởng, ảo giác nhưng các triệu chứng này không nổi trội.
5.2.3 Thể căng trương lực (F20.2)
– Đáp ứng các tiêu biểu chẩn đoán tâm thần phân liệt.
– Có ít nhất một trong các hành vi căng trương lực dưới đây nổi trội trong bệnh cảnh lâm sang trong thời gian ít nhất 2 tuần :
+ Sừng sờ căng trương lực hoặc không nói.
+ Kích động căng trương lực.
+ Tư thế căng trương lực (tự ý chấp nhận hoặc duy trì một tư thế không thích hợp hoặc kỳ dị).
+ Phủ định căng trương lực.
+ Co cứng căng trương lực (giữ nguyên một tư thế cứng đờ và chống lại các cố gắng làm di chuyển tư thế ấy).
+ Uốn sáp.
+ Vâng lời tự động.
5.2.4 Thể không biệt định (F20.3)
– Đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt.
– Không thoả mãn các tiêu chuẩn chẩn đoán của các thể paranoid, thanh xuân.
– Không thoã mãn tiêu chuẩn chẩn đoán của các thể di chứng hoặc trầm cảm sau phân liệt.
5.2.5 Thể trầm cảm sau phân liệt (F20.4)
– Bệnh nhân đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt trong vòng 12 tháng qua.
– Một số các triệu chứng của tâm thần phân liệt còn tồn tại và bệnh cảnh lâm sang nổi bật bằng các triệu chứng trầm cảm và các triệu chứng trầm cảm này phải kéo dài ít nhất 2 tuần.
5.2.6 Thể di chứng (F20.5)
– Trong quá khứ ít nhất có một giai đoạn loạn thần rõ rệt, đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt.
– Các triệu chứng âm tính nổi bật lên hàng đầu như : sự chậm chạp tâm thần vận động, giảm hoạt động, cảm xúc cùn mòn, bị động và thiếu sang kiến, ngôn ngữ và ý tưởng đều nghèo nàn. Bệnh nhân biều hiện nghèo nàn trong giao tiếp không dùng lời (biểu hiện nét mặt, tiếp xúc bằng mắt, âm điệu lời nói), kém chăm sóc cá nhân.
5.2.7 Thể đơn thuần (F20.6)
Đây là một thể khó chẩn đoán vì đòi hỏi phải có một quá trình quan sát và theo dõi để thấy trong diễn tiến của bệnh các triệu chứng âm tính tiến triển ngày càng tăng trong nhiều năm. Trong bậnh cảnh lâm sang không có một giai đoạn nào biểu hiện bằng các triệu chứng dương tính như hoang tưởng, ảo giác.
5.3 Chẩn đoán phân biệt
5.3.1 Rối loạn phân liệt cảm xúc :
Trong bệnh cảnh lâm sang nổi bật bởi các triệu chứng hưng cảm hay trầm cảm rõ rệt xuất hiện đồng thời với các triệu chứng của tâm thần phân liệt trong cùng một giái đoạn của bệnh.
5.3.2 Rối loạn cảm xúc có các triệu chứng loạn thần :
Bệnh cảnh lâm sang nổi bật bởi các triệu chứng hưng cảm hay trần cảm, các triệu chứng loạn thần xuất hiện thường có nội dung phải phù hợp với khí sắc và không phải là các triệu chứng loạn thần đặc trưng trong tâm thần phân liệt như ảo thanh lời nói, hoang tưởng bị chi phối, hoang tưởng kỳ quái. Ví dụ trong hưng cảm có thể xuất hiện hoang tưởng tư cao, trong trầm cảm có thể xuất hiện hoang tưởng bị hại, tự buộc tội…
5.3.3 Các rối loạn tâm thần do sử dụng độc chất :
Trong tiền sử bệnh nhân có sử dụng độc chất có thể có những triệu chứng của hội chứng cai. Các triệu chứng loạn thần xuất hiện trong và sau khi ngừng sử dụng độc chất hoặc trong giai đoạn nhiễm độc cấp. Ảo giác xuất hiện thường là ảo thị, hoang tưởng thường hay gặp là hoang tưởng nhận nhầm, hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng bị hại.
6. TIẾN TRIỂN VÀ TIÊN LƯỢNG
6.1 Tiến triển : tâm thần phân liệt thường tiến triển đến mạn tính, theo ICD10 tâm thần phân liệt có những kiểu tiến triển sau :
6.1.1 Tâm thần phân liệt tiến triển liên tục
6.1.2 Tâm thần phân liệt tiến triển liên tục với thiếu sót tăng dần.
6.1.3 Tâm thần phân liệt tiến triển liên tục với thiếu sót ổn định.
6.1.4 Tâm thần phân liệt từng giai đoạn có thuyên giảm.
6.1.5 Tâm thần phân liệt thuyên giảm không hoàn toàn.
6.1.6 Tâm thần phân liệt thuyên giảm ho
6.2 Tiên lượng : dựa vào các yếu tố sau :
6.2.1 Tuổi : tuổi khởi phát bệnh càng trẻ thì tiên lượng càng nặng.
6.2.2 Giới : nữ thường tiên lượng nhẹ hơn nam
6.2.3 Tính chất phát bệnh : bệnh khởi phát đột ngột có tiên lượng tốt hơn là bệnh khởi phát từ từ với các thiếu sót tăng dần.
6.2.4 Yếu tố thúc đẩy : bệnh khởi phát sau các sang chấn tâm lý tiên lượng tốt hơn không có các yếu tố thúc đẩy.
6.2.5 Thể bệnh : các thể paranoid, căng trương lực tiên lượng nhẹ. Các thể thanh xuân, đơn thuần, di chứng tiên lượng nặng.
6.2.6 Tiền sử gia đình : không có tiền sử gia đình mắc tâm thần phân liệt hoặc tiền sử gia đình bị rối loạn cảm xúc tiên lượng nhẹ hơn các trường hợp tiền sử gia đình mắc tâm thần phân liệt.
6.2.7 Điều trị sớm và tuân thủ điều trị tiên lượng tốt.
6.2.8 Tiến triển của bệnh : bệnh tiến triển từng giai đoạn và giữa các giai đoạn hồi phục hoàn toàn là yếu tố tiên lượng tốt.
6.2.9 Điều kiện kinh tế, tâm lý gia đình : bệnh nhân có nghề nghiệp, kinh tế gia đình ổn định, hôn nhân bền vững là các yếu tố tiên lượng tốt.
6.2.10 Nhân cách tiền bệnh lý : không có rối loạn nhân cách trước khi bị bệnh là yếu tố tiên lượng tốt.
6.2.11 Không có những bất thường về cấu trúc và chức năng của não cũng như không kèm theo các bệnh cơ thể nặng và khôn nghiện thuốc lá, rượu kèm theo là yếu tố tiên lượng tốt
7. ĐIỀU TRỊ :
Tâm thần phân liệt là rối loạn mà nguyên nhân đến nay chưa rõ và thường có xu hướng tiến triển mạn tính, gây ra nhiều thiếu sót nên điều trị triệu chứng là chủ yếu và cần điều trị lâu dài, kết hợp nhiều phương pháp : hoá liệu pháp, tâm lý liệu pháp, liệu pháp tái thích ứng xã hội.
7.1 Hoá liệu pháp : đây là liệu pháp quan trọng và có hiệu quả nhất trong điều trị tâm thần phân liệt. Thuốc điều trị chủ yếu là các thuốc an thần kinh hay còn gọi là các thuốc chống loạn thần.
* Lựa chọn thuốc tuỳ theo từng triệu chứng của bệnh, nhìn chung các thuốc an thần kinh có 3 tác dụng chính :
– Tác dụng chống loạn thần : chống hoang tưởng, ảo giác, kích động.
– Tác dụng an dịu (giải lo âu, gây ngủ).
– Tác dụng giải ức chế.
* Các thuốc an thần kinh điều hình như chlorpromazine (Aminazin), haloperidol có tác dụng với các triệu chứng dương tính (hoang tưởng, ảo giác, kích động) nhưng ít hoặc không có tác dụng lên các triệu chứng âm tính (tư duy nghèo nàn, cảm xúc cùn mòn, khô lạnh…) và thường gây ra nhiều tác dụng phụ ngoại tháp làm bệnh nhân thường bỏ thuốc và ít tuân thủ điều trị.
* Các thuốc an thần kinh không điển hình (Risperidone, Olanzapin, Clozapin, quetiapine,…) có tác dụng với cả các triệu chứng dương tính và âm tính và ít tác dụng phụ ngoại pháp.
* Liều lượng thuốc tuỳ theo tình trạng bệnh lý, khả năng dung nạp thuốc ở từng bệnh nhân. Nói chung lựa chọn liều lượng thuốc theo nguyên tắc tăng liều dần từ thấp đến cao và liều tối ưu là liều thuốc thấp nhất có tác dụng điều trị và ít gây ra tác dụng phụ nhất.
* Điều trị chia làm 2 giai đoạn : Điều trị tấn công trong giai đoạn cấp của bệnh và điều trị duy trì khi bệnh đã thuyên giảm và tương đối ổn định.
* Trong quá trình điều trị phải theo dõi các tác dụng phụ của thuốc, điều chỉnh liều lượng thuốc thích hợp cho từng bệnh nhân.
7.2. Liệu pháp sốc điện hay liệu pháp gây co giật bằng điện (ECT: Electro Convulsive Therapy)
Trong Tâm thần phân liệt ECT được chỉ định trong các trường hợp sau :
– Tâm thần phân liệt thể căng trương lực.
– Bệnh nhân có ý tưởng hoặc hành vi toan tự sát.
– Các trường hợp không hoặc đáp ứng kém với thuốc hoăc chống chỉ định dùng thuốc.
7.3. Liệu pháp tái thích ứng xã hội : liệu pháp này giúp cho bệnh nhân có thể trở lại cuộc sống bình thường tại cộng đồng, phục hồi lại các thói quen trong sinh hoạt, khôi phục lại khả năng lao động của người bệnh. Có nhiều hình thức tổ chức liệu pháp tái thích ứng xã hội như : tổ chức sinh hoạt giải trí, tổ chức lao động, học nghề…tuỳ theo tình trạng bệnh của bệnh nhân.
8. PHÒNG BỆNH
Nguyên nhân của tâm thần phân liệt cho đến nay vẫn còn chưa rõ, do đó việc phòng ngừa tâm thần phân liệt chỉ là hạn chế các yếu tố nguy cơ và phòng ngừa tái phát bệnh. Muốn như vậy, chúng ta cần chú trọng đến các yếu tố sau :
8.1. Trong quá trình mang thai của người mẹ
– Thăm khám thai định kỳ, đảm bảo dinh dưỡng, giữ gìn sức khoẻ trong quá trình mang thai phòng ngừa các bệnh nhiễm virus, các bệnh nhiễm khuẩn qua đường tình dục.
– Tránh sử dụng rượu, thuốc lá trong thai kỳ, tránh các sang chấn tâm lý.
– Không nên sinh con khi bố, mẹ đều lớn tuổi.
– Phòng ngừa các sang chấn sản khoa xảy ra khi sinh.
8.2. Trong quá trình phát triển
– Tạo một môi trường an toàn về tâm lý cho trẻ, không ngược đãi trẻ, tránh các sang chấn tâm lý.
– Giáo dục cho trẻ sống hoà đồng, biết cách thích ứng với những hoàn cảnh khỏ khăn, học tập các kỹ năng giải quyết tình huống trong cuộc sống…
8.3 Phòng ngừa tái phát
– Giáo dục cho người nhà và bệnh nhân hiểu được tầm quan trong của việc uống thuốc đều, đảm bảo cung câp đầy đủ thuốc điều trị ngoại trú cho bệnh nhân.
– Hướng dẫn cho bệnh nhân và gia đình những dấu hiệu sớm của sự tái phát để được điều trị kịp thời.
– Thông tin cho gia đình về một số các tác dụng phụ thường gặp của thuốc và hướng xử trí để bệnh nhân không bỏ điều trị.
– Tuyên truyền cho cộng đồng hiểu về tâm thần phân liệt, tránh thái độ kỳ thị, xa lánh người bệnh.
– Giáo dục cho bệnh nhân tránh các sang chấn tâm lý, không sử dụng bia rượu và các chất kích thích khác.
– Tái phục hồi các chức năng nghề nghiệp xã hội cho người bệnh.
– Hỗ trợ tâm lý cho gia đình bệnh nhân và hướng dẫn cách chăm sóc bệnh nhân cho gia đình.
(ST)
Hãy liên hệ với PKBSCK2 Nguyễn Văn Cầu
(ĐT 0913941291 hoặc web: bacsicau.vn)
để được khám và điều trị sớm.

Hỏi bác sĩ trả lời

Để lại bình luận

Liên hệ Facebook