Sơ lược liệu pháp Nhận thức

Liệu pháp nhận thức do Beck đề xướng, nảy sinh khi ông điều trị cho bệnh nhân trầm cảm. Trước đó, ông tiến hành điều trị bệnh nhân theo phương pháp Freud kinh điển, nhưng nhận thấy không thành công ở một số khía cạnh.
1. Cơ sở lý thuyết:
Liệu pháp nhận thức do Beck đề xướng, nảy sinh khi ông điều trị cho bệnh nhân trầm cảm. Trước đó, ông tiến hành điều trị bệnh nhân theo phương pháp Freud kinh điển, nhưng nhận thấy không thành công ở một số khía cạnh. Qua kinh nghiệm lâm sàng, ông nhận thấy cần tập trung vào nội dung của những suy nghĩ âm tính, sai lệch, méo mó rất phổ biến ở người bệnh trầm cảm. Ông cũng cho rằng các khía cạnh nhận thức này là trung tâm hơn cho trầm cảm, có thể dễ xác minh hơn là lý thuyết tâm động học của Freud.
Beck cho rằng người bệnh trầm cảm biểu hiện đang duy trì và phát triển những thông tin méo mó, điều này dẫn đến quan điểm âm tính một cách kiên định về bản thân bệnh nhân, về tương lai và về thế giới. Nội dung và tiến trình nhận thức này là nền tảng của hành vi, cảm xúc và các triệu chứng bệnh lý trầm cảm, và tiến trình nhận thức này cũng chính là động cơ thúc đẩy trầm cảm trên bệnh nhân.
Beck đã đưa ra một mô hình nhận thức nhằm khám phá bản chất của rối loạn cảm xúc và để trị liệu cho bệnh nhân. Trong thời gian điều trị, nhà trị liệu sẽ kiểm tra những niềm tin mà bệnh nhân trình bày liên quan đến quan điểm của họ về bản thân, về tương lai và về thế giới. Ba lĩnh vực này được gọi là “Bộ ba nhận thức”, và bệnh nhân là người có sự bất thường của một hay nhiều hơn trong ba lĩnh vực này.
1.1.Nguyên lý điều trị:
Liệu pháp nhận thức tập trung vào các loại niềm tin khác nhau của bệnh nhân về sự mong đợi, sự đánh giá, sự qui kết nhân quả và trách nhiệm của họ. Khi bệnh nhân đã xác định nội dung niềm tin trong nhận thức của họ, nhà trị liệu sẽ khuyến khích bệnh nhân nhìn nhận những nhận thức đó như một giả thuyết chứ không phải là thực tế. Có nghĩa rằng, những niềm tin của bệnh nhân như vậy có thể là một khả năng, nhưng không nhất thiết đó phải là sự thực.
Việc tạo ra một khung niềm tin chỉ là một giả thuyết được gọi là “khoảng cách”. Đây là cách thức mà một người có thể tự bản thân tách ra một niềm tin để cho phép mình kiểm tra một cách khách quan hơn về niềm tin đó.
Thông qua việc xem xét, khảo sát kỹ lưỡng và cẩn thận về niềm tin, bệnh nhân có thể từ từ đạt tới một quan điểm khác. Khi niềm tin thay đổi một cách đúng đắn, sẽ kéo theo thay đổi phản ứng cảm xúc. Như vậy, một phản ứng rối loạn cảm xúc trước một sự kiện hoặc một vấn đề đều có cơ sở nhận thức của nó. Với việc làm suy yếu cơ sở nhận thức này, phản ứng cảm xúc sẽ lắng xuống.
Qua việc giúp bệnh nhân nhận biết và nghi vấn lặp đi lặp lại nhiều lần về những phản ứng của bệnh nhân với các sự kiện, nhà trị liệu mong đạt được những kết quả như sau:
(1)Sự kiện khó chịu xuất hiện, do niềm tin sai lệch đã khiến bệnh nhân quan tâm, lo lắng. Khi giúp bệnh nhân thay đổi niềm tin, nghĩa là thay đổi cơ sở nhận thức, sự lo lắng giảm đi vì những khía cạnh khó chịu lúc đầu gây ra niềm tin sai lệch về chúng không còn nữa. Khi sự quan tâm, lo lắng được giảm đi sẽ có tác dụng hạn chế cảm xúc âm tính. Bình thường cảm xúc âm tính sẽ xảy ra trong suốt thời gian suy nghĩ hoặc hồi tưởng về những sự kiện khó chịu. Đến nay, kết quả là mức độ cảm xúc âm tính cơ bản ít đi.
(2)Những điều không thể giải thích được về phản ứng cảm xúc của bệnh nhân đã trở nên có thể hiểu được. Điều này thông qua một mô hình nhận thức mà bệnh nhân học được trong liệu pháp. Vậy kết quả ở đây là bệnh nhân có thể hiểu được những phản ứng cảm xúc của mình.
(3)Qua kết quả trải nghiệm thành công trong sử dụng các phương pháp của liệu pháp nhận thức, bệnh nhân bắt đầu sử dụng chúng một cách thích hợp khi đối mặt hàng ngày với những khó khăn để cải thiện các mối quan tâm, lo lắng của bệnh nhân. Vậy kết quả là bệnh nhân biết ứng dụng phương pháp liệu pháp nhận thức để đối phó với những khó khăn mới.
1.2.Những nhận thức sai lầm:
Trong tiến trình trị liệu, nhà trị liệu cung cấp cho bệnh nhân hiểu về một số suy nghĩ sai lầm, gọi là sai lầm nhận thức, bệnh nhân có thể tìm thấy qua những thí dụ để suy nghĩ liên hệ với suy nghĩ của riêng mình. Khi nhận biết được một nhận thức sai lầm, bệnh nhân có thể không coi trọng suy luận liên quan đến sai lầm nữa, hoặc sẽ dùng những kỹ thuật phân tích khái quát hơn để nghi vấn giá trị của suy luận sai lầm đó.
Beck và cộng sự đã nêu ra 11 sai lầm nhận thức phổ biến:
(1) Suy nghĩ tất cả – hoặc – không có gì ( All – or – nothing thinking):
Đặt các trải nghiệm ở một trong hai loại đối lập nhau. Thí dụ, sự hoàn thiện hoặc khiếm khuyết; tinh khiết hoặc dơ dáy; thánh thiện hoặc tội phạm…
Sai lầm nay còn được gọi là kiểu Tư duy lưỡng phân (Dichotomous Thinking): Đó là kiểu tư duy cực đoan theo qui luật “Tất cả hoặc không”, “Trắng hoặc đen”. Thực tế cuộc sống không phải đều tuân theo qui luật này. Tư duy này hay gặp trong rối loạn nhân cách ranh giới và rối loạn ám ảnh cưỡng bức.
(2) Khái quát hóa quá mức (Overgeneralizing):
Rút ra những suy luận bao quát chung chung, không có ngoại lệ từ những thí dụ đơn lẻ. Thí dụ, “Tôi không thể kiểm soát được tính khí của tôi”.
Những ý nghĩ khái quát hoá khác như: “ Mọi việc tôi làm đều trở nên sai lầm”, “ Bất cứ vấn đề gì tôi chọn lựa, chúng tôi luôn thất bại”.
Suy nghĩ này thường gặp trong trầm cảm.
(3) Coi nhẹ sự xác thực, rõ ràng ( Discounting the positive):
Quyết định rằng nếu một sự việc tốt đã xảy ra, nó không thể là rất quan trọng.
(4) Vội đi tới những kết luận (Jumping to conclusion):
Để hiểu một tình huống, lại chỉ tập trung vào một khía cạnh không đầy đủ. Thí dụ, “ Tôi không nhận được điện thoại từ nơi tôi đang xin việc làm là vì họ đã quyết định không nhận tôi làm việc”.
(5) Đọc ý nghĩ (Mind reading):
Tin rằng một người biết cái người khác đang suy nghĩ, với rất ít bằng chứng. Những ngưòi bệnh này thường suy đoán về ý nghĩ của người khác (đọc ý nghĩ của người khác) nhưng thường liên quan đến mình, như “ Họ có thể suy nghĩ rằng tôi là người bất tài”, “Tôi biết rằng họ sẽ không chấp nhận”.
Kiểu suy nghĩ này thường gặp trong rối loạn nhân cách né tránh và hoang tưởng.
(6) Đoán vận mệnh ( Fortunetelling):
Tin rằng một người biết vận mệnh nắm giữ cái gì đó, trong khi phớt lờ những khả năng khác.
(7) Khuyếch đại/Giảm tối thiểu (Magnifying/Minimizing):
Đánh giá tầm quan trọng của một sự kiện âm tính hoặc sự không quan trọng của một sự kiện dương tính trong một thái độ cư sử méo mó.
(8) Lý luận mang tính cảm xúc ( Emotional reasoning):
Tin rằng một cái gì đó phải là sự thực vì nó có vẻ giống sự thực. Đó là những lý luận, suy đoán xuất phát từ cảm xúc. Người bệnh thường suy nghĩ: “ Bởi vì tôi thấy mình yếu kém cho nên tôi yếu kém” hoặc “ Bởi vì tôi thấy không thoải mái nên thế giới này là nguy hiểm” hoặc “ Bởi vì tôi cảm thấy bực bội nên chắc chắn là có điều gì đó không đúng”.
Suy nghĩ lệch lạc này thường gặp ở rối loạn lo âu và hoảng sợ.
(9) Thường sử dụng từ “nên” (Making “should” statements):
Nói rằng bản thân một người nên làm một điều gì đó hoặc lẽ ra nên làm điều đó khi cho rằng người khác thích làm điều đó hơn hoặc mong muốn làm điều đó hơn. Thí dụ, những suy nghĩ như: “ Tôi nên thăm gia đình tôi mỗi khi họ muốn như thế”, “Họ nên làm điều tôi nói bởi vì điều đó là đúng”.
Suy nghĩ này thường xảy ra ở những bệnh nhân rối loạn ám ảnh cưỡng bức và hoang tưởng tự tội.
(10)Dán nhãn (Labeling):
Sử dụng một cái nhãn như “ người mẹ tồi”, “ ngu dốt”… để mô tả một hành vi, và sau đó qui kết tất cả ý nghĩa mà cái nhãn đó chứa đựng.
(11)Lời trách mắng không thích hợp ( Inapropriate blaming):
Sử dụng thước ngắm hoặc sự nhận thức muộn (sau khi sự việc xảy ra mới nhận ra vấn đề – hindsight) để xác định cái mà một người “lẽ ra đã làm”, thậm chí một người đã không biết điều tốt nhất để làm vào lúc đó, phớt lờ các yếu tố khác, nhằm qui kết cho kết quả âm tính vì người đó.
1.3.Sự tương tác trị liệu:
Trong Liệu pháp nhận thức của Beck, mối quan hệ Nhà trị liệu – Bệnh nhân là một sự cộng tác, chia sẻ một cách bình đẳng về trách nhiệm cho việc giải quyết vấn đề của bệnh nhân.
Liệu pháp nhận thức cho rằng, hệ thống ý nghĩa của mỗi bệnh nhân là thuộc tính khí chất của họ. Do vậy, bệnh nhân phải nắm một vai trò tích cực trong việc điều trị cho họ. Bệnh nhân được hướng dẫn để tự chất vấn lại với những ý nghĩ của họ trước một sự kiện đau buồn hoặc gây ra những cảm xúc đảo lộn khác. Và như vậy, trong Liệu pháp nhận thức, trách nhiệm được đặt trên vai bệnh nhân nhiều hơn.
Tất nhiên, vì là chuyên gia về mô hình nhận thức, và đặc biệt trong thời gian đầu, nhà trị liệu có nhiệm vụ dạy cho bệnh nhân những nguyên lý cơ sở của liệu pháp. Nhà trị liệu cũng phải phân tích về những test (thử nghiệm) về những niềm tin của bệnh nhân trong quá trình điều trị.
2.Những ứng dụng lâm sàng:
2.1.Các phương pháp hành vi:
Liệu pháp nhận thức mượn một số qui trình ở các trường phái liệu pháp tích cực, trực tiếp khác và chỉnh lý lại cho thích hợp với các phương pháp hành vi theo các mục tiêu thay đổi nhận thức.
Tự kiểm tra:
Khi bắt đầu một khóa trị liệu nhận thức, yêu cầu bệnh nhân ghi chép cẩn thận từng giờ về các hoạt động của bệnh nhân và các trạng thái cảm xúc liên quan trong tối thiểu một tuần. Bệnh nhân nên ghi chép trạng thái cảm xúc của mình theo thang điểm từ 0 đến 100. Điểm 0 là điều xấu nhất mà bệnh nhân từng cảm thấy; và điểm 100 là điều tốt nhất. Bệnh nhân cũng có thể ghi mức độ làm chủ và sự thú vị, dễ chịu liên quan đến mỗi hoạt động được ghi chép. Tác dụng của sự ghi chép là:
-Nhà trị liệu biết bệnh nhân sử dụng thời gian hàng ngày ra sao. Có bệnh nhân đã phải ngạc nhiên về sử dụng thời gian của chính mình, thí dụ tại sao lại giành nhiều thời gian xem TV như vậy.
-Là mốc, ranh giới để so sánh với lần ghi chép sau.
-Một số giả định của nhận thức sai lầm của bệnh nhân có thể được kiểm tra. Nhà trị liệu có cơ sở giúp bệnh nhân đánh giá lại chúng.
-Nhà trị liệu có thể thu nhận được những điều, những sự kiện đặc biệt tốt hoặc đặc biệt xấu ở bệnh nhân để sẽ được thảo luận trong phiên trị liệu sau.
-Nếu có biểu hiện một sự kiên định trong ghi chép của bệnh nhân liên quan tới cảm xúc tốt hoặc xấu, hoặc sự làm chủ hay điều thú vị của bệnh nhân… Điều này được nhận biết để có hướng xử lý thích hợp.
Lập kế hoạch hoạt động:
Mục đích của việc lập kế hoạch hoạt động nhằm:
– Tăng cường khả năng bệnh nhân sẽ tham gia các hoạt động mà bệnh nhân đang né tránh một cách không thích hợp, không nên né tránh.
– Xóa đi những quyết định đưa ra lúc ban đầu như một trở ngại của một hoạt động. Bệnh nhân chỉ nên tiến hành những hoạt động mà mình đồng ý làm.
Những hoạt động được lập kế hoạch thuộc ba trạng thái bệnh nhân sau:
(1)Những bệnh nhân có khả năng tự chủ, thoải mái và trạng thái cảm xúc tốt để có thể làm công việc tự kiểm soát.
(2)Những bệnh nhân thấy thỏa mãn trong quá khứ, nhưng đang né tránh hoạt động trong thời gian rối loạn trầm cảm, lo âu…
(3)Những hoạt động mới mà bệnh nhân và nhà trị liệu đồng ý tiến hành, và bệnh nhân thấy thỏa mãn hoặc có thể nâng cao kiến thức cho bệnh nhân.
Khi lập kế hoạch hoạt động, nhà trị liệu cố gắng giúp bệnh nhân lường trước những trở ngại về môi trường hoặc về nhận thức có thể tác động vào kế hoạch hoạt động. Nếu có trở ngại, những trở ngại này có thể được đưa ra thảo luận trong buổi trị liệu, hoặc có thể thay đổi kế họach để né tránh chúng.
Những thử nghiệm về giả thuyết cũng có thể gắn vào trong kế hoạch hoạt động. Khi đó bệnh nhân có thể kiểm soát trạng thái cảm xúc của họ được nhận thấy trong mỗi hoạt động để tạo niềm tin trong những hoạt động này.
2.2.Các phương pháp nhận thức:
Những qui trình liệu pháp nhận thức nhằm tuyệt đối vào sự thay đổi nhận thức. Đó là vì lý thuyết nhận thức xem xét sự thay đổi cảm xúc và hành vi hầu hết là kết quả của thay đổi nhận thức. Các qui trình nhằm làm thay đổi nhận thức bao gồm:
Ghi chép hàng ngày về những ý nghĩ hoạt động khác thường:
Bệnh nhân được hướng dẫn ghi Nhật ký về những suy nghĩ rối loạn chức năng theo mẫu của Beck (Daily Record of Dysfunctional Thoughts – DRDT). Trong bản nhật ký đó, bốn cột quan trọng nhất tương ứng với ba điểm trong mô hình nhận thức cảm xúc ( tình huống, niềm tin và hậu quả cảm xúc), cộng thêm với những đáp ứng hoặc phản đáp ứng với những niềm tin (những niềm tin hợp lý hơn và bình thường hơn).
Nhà trị liệu hướng dẫn bệnh nhân ghi chép lại những lúc họ cảm thấy một trạng thái cảm xúc khó chịu hoặc trạng thái bối rối, hoang mang. Do vậy lúc đầu nhà trị liệu phải hướng dẫn cho bệnh nhân hiểu ý nghĩa của những phân loại trạng thái cảm xúc khác nhau như “ Cảm nhận”, “Trạng thái cảm xúc” (khí sắc) và “Cảm xúc”.
Thí dụ:
Cảm nhận (Feeling): “Tôi cảm thấy cô ta không yêu tôi nữa”.
Cảm xúc (Emotion): “yêu, ghét, tức giận…”
Khí sắc, tâm trạng (Mood): “Ngày hôm nay tôi luôn thấy vui vẻ/buồn buồn…”
Khi bệnh nhân có thể phân biệt được sự khác nhau của các trạng thái cảm xúc, họ có thể đưa ra những đánh giá về cường độ của các trạng thái cảm xúc đó.
Trong nhật ký, nhà trị liệu cũng yêu cầu bệnh nhân ghi lại những tình huống, hoàn cảnh và những dòng suy nghĩ khi cảm xúc xảy ra. Với nhiều bệnh nhân, tình huống, hoàn cảnh và trạng thái cảm xúc là hai khía cạnh trải nghiệm mà bệnh nhân luôn luôn chú tâm vào khi có rối loạn cảm xúc. Thí dụ, “Tôi bị tổn thương vì anh ta không trả lời tôi”
Thực tế có nhiều bệnh nhân nhìn nhận tình huống, hoàn cảnh như một nguyên nhân trực tiếp của đáp ứng cảm xúc. Họ cho rằng họ có điều gì đó sai lầm gây ra phản ứng cảm xúc không thích nghi và rối loạn.
Do vậy công việc của nhà trị liệu là hướng dẫn bệnh nhân chú tâm vào những suy nghĩ và hình dung của họ ở những thời gian đó. Tối thiểu lúc ban đầu, trong các buổi trị liệu, bệnh nhân phải nhớ lại và trình bày với nhà trị liệu những suy nghĩ của bệnh nhân.
Một khi bệnh nhân đã có thể tường trình về tình huống, suy nghĩ và các phản ứng cảm xúc của mình, sự can thiệp của trị liệu có thể bắt đầu.
Mặc dù trong nhật ký có cột “ Những đáp ứng khác” và đôi khi được gọi là cột “ Những đáp ứng hợp lý”, nhưng không nhất thiết phải cho rằng những niềm tin của bệnh nhân luôn luôn là phi lý hoặc thậm chí là không đúng. Như vậy có nghĩa là những điều nêu lên trong Liệu pháp nhận thức đi từ “ Những ý nghĩ tự động” tới “ Những đáp ứng hợp lý” chỉ là những ước lượng thô. Đúng hơn, Liệu pháp nhận thức quan tâm đến việc kiểm tra lại suy luận của bệnh nhân nảy sinh khi bệnh nhân bị đau buồn và nó có thể được xem là nguyên nhân của đau buồn. Như vậy, dù những đáp ứng với những ý nghĩ ban đầu được gọi là “ hợp lý”, “thích nghi”, “có thể chọn để thay thế” hoặc là một số thuật ngữ khác, thì sự can thiệp vẫn tập trung vào việc giúp đỡ bệnh nhân học tập để chất vấn và kiểm tra lại những suy luận của họ.
Bệnh nhân cũng cần ghi mức độ tin tưởng của họ trong mỗi “Ý nghĩ tự động” trước và sau khi kiểm tra. Việc tái đánh giá tỷ lệ này cho phép kiểm tra lại về tác dụng của câu hỏi. Khi niềm tin trong ý nghĩ tự động vẫn còn ở tỷ lệ cao sau đánh giá lại, điều đó chỉ ra rằng, câu hỏi có thể được xem là lịch thiệp hay thô thiển, nó không giải quyết được mối quan tâm ban đầu. Hoặc là ý nghĩa then chốt đã bị quên đi, hoặc là thực tế bệnh nhân đã mô tả đặc điểm tình huống một cách trọn vẹn và chính xác. Trong trường hợp thứ hai, khi đó nhà trị liệu có thể giúp bệnh nhân kiểm tra lại tầm quan trọng hoặc ý nghĩa của đặc điểm tính cách của bệnh nhân.
Tương tự, mức độ đáp ứng cảm xúc cũng được bệnh nhân ghi lại trước và sau sự phân tích ý nghĩ. Nếu có ít hoặc không có thay đổi trong cảm xúc, điều đó nói cho nhà trị liệu nhận thức rằng trong sự phân tích vẫn còn thiếu điều gì đó quan trọng. Như vậy bệnh nhân vẫn còn giữ những niềm tin liên quan mà niềm tin đó không bị lay chuyển bởi điều gì quan trọng còn thiếu đó. Nó gợi ý rằng cần khám phá thêm.
Cuối cùng, bệnh nhân còn ghi độ tin tưởng trong đáp ứng khác thay thế. Nếu đáp ứng là cũ rich, mòn sáo như “ Những sự việc sẽ sớm trở nên tốt hơn”… hoặc theo bất kỳ cách thức nào thiếu thuyết phục bệnh nhân thì cần được lọc ra và làm việc với bệnh nhân.
Ba câu hỏi:
Ba câu hỏi làm sáng tỏ vấn đề về suy luận mà bệnh nhân được hướng dẫn là:
(1)Cái gì là bằng chứng cho niềm tin và chống lại niềm tin?
(2)Cái gì là giải thích khác cho sự kiện hoặc tình huống?
(3)Cái gì là ám chỉ thực nếu niềm tin là đúng?
Mỗi câu hỏi được bắt đầu ở đây trong hình thức chung, và tất nhiên nó có thể được thay đổi cho phù hợp với tình huống và kiểu bệnh nhân.
Những sai lầm nhận thức:
Một tiếp cận khác bổ sung cho ba câu hỏi liên quan đến việc nhà trị liệu hướng dẫn cho bệnh nhân nhận biết những suy nghĩ của họ khi bị rơi vào một trong những kiểu sai lầm nhận thức. Danh sách những kiểu sai lầm này dùng để nhắc nhở bệnh nhân rằng họ là một thành viên của loài người nên cũng thiên về các khuynh hướng cường điệu suy nghĩ hoặc các khuynh hướng suy nghĩ khác. Trong những thời gian này, bệnh nhân có thể giảm bớt sự suy diễn không chắc chắn hoặc không logic, tái cơ cấu nó trong hình thức ít cực đoan hơn, hoặc phân tích suy luận theo ba câu hỏi.
Thí dụ, một bệnh nhân là giáo viên đã kết luận rằng anh ta có một bài giảng nghèo nàn vì có 3 trong 40 học sinh trong lớp biểu hiện lơ đãng trong suốt giờ giảng. Trong trị liệu, bệnh nhân đã nhận ra rằng mình đã “cá nhân hóa”. Đặc biệt nếu nhà trị liệu có thể cung cấp cho bệnh nhân lý do của sự lơ đãng đó không liên quan đến chất lượng của bài giảng ( như phòng học có nhiệt độ nóng quá hoặc bản thân mấy học sinh đó vốn lơ là học tập…). Một cách thay đổi, bệnh nhân có thể xác định rằng mình đã “ khái quát hóa quá mức”, nếu trong sự phản ánh bệnh nhân gợi lại rằng hầu hết học sinh đều hứng thú với bài giảng và đã có một số học sinh đến gặp bệnh nhân sau buổi lên lớp với những câu hỏi rất sâu sắc.
Nhận biết sơ đồ nhận thức:
Sau một số buổi trị liệu, nhà trị liệu nhận thấy có một số niềm tin liên quan đến cảm xúc của bệnh nhân biểu hiện một cách kiên định. Hiện tượng này thực ra không thể nhận thấy “trên bề mặt” mà chỉ có thể nhận thấy ở ý nghĩa cá nhân. Thí dụ, nhà trị liệu và bệnh nhân thấy rằng nhiều điều ghi trong nhật ký của bệnh nhân bao gồm những niềm tin theo kiểu: “Nếu tôi không phải là một người X tốt nhất, khi đó nó không đáng để theo đuổi, và tôi là người X vô giá trị”.
Weissman và Beck đã đưa ra một thang đánh giá gọi là “Thang thái độ rối loạn chức năng” ( The Dysfunctional Attitude Scale – DAS). Đây là một phương thức đánh giá có thể dùng để rút ra những giả định hoặc sơ đồ nhận thức nền tảng này, đồng thời để theo dõi sự thay đổi trong điều trị và sau điều trị. Thang bao gồm một loạt những tuyên bố về thái độ quan điểm để bệnh nhân trả lời và đối chiếu xem xét. Bệnh nhân định giá mức độ mà họ đồng ý với mỗi tuyên bố. Thang này đã được phân tích các yếu tố và đã tìm ra 9 yếu tố có thể giải thích được như sau:
(1)Tính dễ tổn thương ( “Bất kì khi nào tôi có cơ hội hoặc có nguy cơ, tôi chỉ chờ đợi một điều phiền toái mà thôi”).
(2)Sự chấp thuận (“Giá trị của con người tôi phụ thuộc rất lớn vào điều những người khác nghĩ về tôi”).
(3)Thuyết hoàn hảo, cầu toàn (“Vợ tôi đều uổng công, lãng phí trừ phi tôi thành công”).
(4)Nhu cầu làm hài lòng người khác (“Tốt nhất là nên từ bỏ hứng thú riêng của bạn để làm vừa lòng những người khác”).
(5)Mệnh lệnh (“Tôi nên vui vẻ trong mọi lúc mọi nơi”).
(6)Nhu cầu gây ấn tượng người khác (“Tôi nên cố gắng gây ấn tượng người khác nếu tôi muốn họ thích tôi”).
(7)Né tránh sự yếu đuối (“Nếu một người đòi hỏi sự giúp đỡ, đó là dấu hiệu của sự yếu đuối”).
(8)Kiểm soát cảm xúc quá mức (“Sự chỉ trích một người không nên làm đảo lộn, bối rối người ta”).
(9)Không tán thành (“Để một người quan trọng của bạn không chấp nhận là một điều khủng khiếp”).
Những điểm được chấm trên cơ sở những yếu tố này có thể chỉ ra những nhóm rối loạn về thái độ hoặc sơ đồ nhận thức.
PGS.TS.BS Nguyễn Văn Thọ

Hỏi bác sĩ trả lời

Để lại bình luận

thiết kế web biên hòa thiet ke web bien hoa dong nai thiết kế web biên hòa thiet ke web bien hoa dong nai