RỐI LOẠN NHÂN CÁCH

I.ĐẠI CƯƠNG

Trong mỗi con người  chúng ta đều có sẵn những đặc tính riêng để giúp chúng ta duy trì được thế cân bằng giữa thế giới nội tâm và thế giới bên ngoài. Những đặc tính này được gọi là nhân cách. Nhân cách là tập hợp những nét đặc trưng về hành vi , suy nghĩ và cảm xúc của từng cá nhân. Những nét đặc trưng này sẽ quy định nên cách sống của mỗi người.

Rối loạn nhân cách bao gồm các trạng thái và mô hình hành vi có ý nghĩa lâm sàng với khuyênh hướng dai dẳng và biểu hiện những đặc trưng lối sống cá nhân và phương thức quan hệ với bản thân và với nhũng người khác. Một số trạng thái và mô hình hành vi này xuất hiện sớm trong quá trình phát triển cá nhân như là hậu quả của nhân tố thể chất và kinh nghiệm xã hội trong khi những cái khác được tập nhiễm về sau trong cuộc sống.

1.1.Những nét nhân cách

Thường được quan sát một cách tổng quát như là kết quả của quá trình phát triển của một người dưới ảnh hưởng của các nhân tố văn hóa, xã hội cũng như là môi trường phát triển của đứa trẻ trong mỗi một gia đình .Hơn nữa , những nghiên cứu về sự phát triển của trẻ gần đây cho thấy rằng có thể có vai trò của yếu tố di truyền trong quá trình phát triển và hình thành nhân cách. Một vài đặc trưng về di truyền có thể tạo ra những phản ứng hành vi đặc biệt hơn là bình thường điều này tạo ra một kiểu nhân cách đặc biệt . Khi những nét đặc biêt này xảy ra thường xuyên sẽ dẫn đến một rối loạn nhân cách .Mỗi khi những nét nhân cách bị kém thích nghi và thiếu linh hoạt sẽ tạo ra sự giảm hiệu năng đáng kể trong công việc và xã hội cũng như tạo ra những buồn phiền cho bệnh nhân. Những biểu hiện về rối loạn nhân cách thường được nhận biết ở thời kỳ thiếu niên và tiếp tục cho đến lúc trưởng thành. Tuy nhiên triệu chứng có thể ít rõ ràng hơn ở những năm sau .

1.2.Biểu hiện của các triệu chứng

Các loại trạng thái bệnh này bao gồm các mô hình hành vi kéo dài và ăn sâu, bản thân chúng được thể hiện như những đáp ứng cứng nhắc với những hoàn cảnh cá nhân và xã hội rất khác nhau. Chúng bao gồm những lệch lạc, quá mức hay có ý nghĩa, so với phương thức mà một cá nhân trung bình trong một nền văn hoá nhất định nhận biết, suy nghĩ, cảm xúc và đặc biệt quan hệ với những người khác. Những mô hình tác phong như vậy có khuyênh hướng trở nên ổn định và bao gồm nhiều lĩnh vực tác phong và hoạt động tâm lý.Chúng thường chứ không phải luôn luôn kết hợp với nhiều mức độ khác nhau của đau buồn chủ quan và những vấn đề hoạt độngvà thực hiện trong xã hội.

Các rối loạn nhân cách khác với biến đổi nhân cáchvề thời điểm và phương thức xuất hiện của chúng. Đay là những trạng thái bệnh tiến triển xuất hiện ở tuổi trẻ em hoặc tuổi thanh thiếu niên và tiếp tục sang tuổi trưởng thành. Chúng không thứ phát sau một rối loạn tâm thần, hoặc một bệnh não khác, mặc dù chúng có thể đến trước và cùng tồn tại với các rối loạn khác. Ngược lại biến đổi nhân cách là những biến đổi mắc phải, thường kéo dài suốt tuổi thanh niên, tiếp theo sau stress nặng hoặc kéo dài,sau sự cách ly môi trường cao độ, sau rối loạn tâm thần trầm trọng hoặc bệnh não hay tổn thương ở não. Mỗi một trạng thái ở nhóm này có thể phân loại theo các biểu hiện hành vi ưu thế của nó. Tuy nhiên sự xếp loại trong lĩnh vực này hiện nay bị hạn chế ở chỗ mô tả một loạt những nhóm và phân nhóm không loại trừ lẫn nhau và có vài đặc điểm của chúng gối lên nhau.

Bỏi vậy các rối loạn nhân cách được chia nhỏ ra theo các nhóm nhân cách tương ứng với những biểu hiện hành vi rõ rệt nhất và thường gặp nhất. Khi làm một chẩn đoán rối loạn nhân cách nhà lâm sàng phải xét mọi kiểu cách hoạt động cá nhân cho dù trong trình bày chẩn đoán, để được đơn giản và có hiệu quả sẽ chỉ đề cập đến các khía cạnh hoặc các nét gợi ý về các mức độ trầm trọng đã đạt dược.Việt đánh giá phải căn cứ vào càng nhiều thông tin càng tốt.

Rối loạn nhân cách là những rối loạn cảm xúc thường thấy nhât trong thực hành lâm sàng tâm thần học nhất là ở những đơn vị điều trị ngọai trú . Nhận thức của bệnh nhân thường có vấn đề và biểu hiện ra bên ngoài bởi các triệu chứng, tuy nhiên các triệu chứng này khác với các triệu chứng của các bệnh lý tâm thần khác và thường điều trị khó khăn. Cùng với rối loạn nhân cách bệnh nhân có thể than phiền về những rốí loạn cảm xúc đặc biệt là trầm cảm và lo âu . Chúng có thể được biểu hiện:

* Ego syntonic symtoms : Là trạng thái mà bệnh nhân không nhận biết được những khó khăn xảy ra và họ cũng không cần thay đổi những vấn đề đó . Họ cho rằng những rối loạn đó là của thế giới bên ngoài chứ không phải của bản thân họ.

* Ego-dystonic symtoms: Bệnh nhân có thể nhận biết được những triệu chứng lo âu này là do chính họ tạo ra nhưng vẫn không thể nào thay đổi được hành vi và cách cư xử của họ.

1.3. Bệnh cảnh lâm sàng

Những triệu chứng của rối loạn nhân cách hầu như luôn luôn có ảnh hưởng đến người khác. Những triệu chứng này có ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt và tất cả các mối quan hệ.

Những người bị rối loạn nhân cách thường gặp những khó khăn trong công việc, họ thường thay đổi nhiều việc làm và công việc thường không đạt đến hiệu suất cao.

Những mối quan hệ xã hội bị phá vỡ hoặc bị mất đi: do những người bị rối loạn nhân cách thường dễ bị kích thích và dễ bùng nổ đối với những người có liên quan đến họ.

– Những bệnh nhân này có thể đến điều trị do các bệnh lý nội khoa hoặc ngoại khoa nhưng dù vì lý do gì đi nữa họ cũng thường tạo nên những phản ứng tiêu cực cho thầy thuốc và những nhân viên y tế đang chăm sóc cho họ.

– Nhìn chung,những bệnh nhân bị rối loạn nhân cách thường dung nạp kém đối với những stress và họ tìm kiếm sự giúp đỡ với mục đích làm giảm nhẹ đi những stress bên ngoài hơn là thay đổi nhân cách của họ.

1.4 Sinh học

Di truyền : Những nghiên cứu ở những trẻ sinh đôi và ở những đứa con nuôi cho thấy rằng có vai trò của yếu tố di truyền trong việc hình thành những nét nhân cách. Còn vai trò của di truyền trong rối loạn nhân cách vẫn còn chưa biết rõ.

Yêú tố gia đình: Có sự gia tăng về nguy cơ cho cả những rối loạn về trục I và trục II ở những gia đình có người bị rối loạn nhân cách.

1.5. Chẩn đoán

– Rối loạn trục I là thường gặp . Đa số bệnh nhân bị rối loạn nhân cách cũng thường có một hoặc nhiều hơn những rối loạn ở trục I. Đôi khi cũng khó chẩn đoán đối với một rối loạn nhân cách đặc biệt khi bệnh nhân có một sự phối hợp của nhiều nét nhân cách. Tuy nhiên DSM IV cho phép chẩn đoán nhiều loại rối loạn nhân cách nếu như bệnh nhân có các tiêu chuẩn cho nhiều loại rối loạn nhân cách khác nhau. Chẩn đoán rối loạn nhân cách nên cẩn thận đối với những người mà chỉ phản ứng lại khi ở một môi trường nào đó ví dụ như những thanh niên thường hình thành nên những phản ứng kém thích nghi ở trường nội trú trong khi đó họ lại không hành động như vậy ở môi trường khác.

– Những rối loạn trục I làm cho việc đánh giá về rối loạn nhân cách khó khăn hơn. Ví dụ rối loạn nhân cách không nên chẩn đóan cho bệnh nhân TTPL trừ khi rối loạn nhân cách là nguyên nhân rõ ràng dẫn đến sự khởi phát của TTPL.

II.CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH

Theo DSM  IV có 11 rối lọan nhân cách đặc hiệu được mô tả. Do có những nét hoặc những triệu chứng giống nhau giữa các rối loạn nên các loại rối loạn nhân cách này được chia làm 3 nhóm.

– Nhóm A : Gồm những rốí loạn nhân cách lập dị, kỳ quái.

– Nhóm B : Gồm những rối lọan nhân cách mang tính cảm xúc, kịch tính, đồng bóng.

– Nhóm c : Gồm những rối loạn kiêủ lo âu , sợ hãi.

2.1. Nhóm A

Nhóm lập dị kỳ quái bao gồm : rối loạn nhân cách dạng phân liệt , rối loạn nhân cách phân liệt và rối loạn nhân cách paranoid.Theo ICD-10 gọi là các rối loạn nhân cách đặc hiệu. Rối loạn nhân cách đặc hiệu là rối loạn trầm trọng của sự hình thành nhân cách và các khuyênh hướng hành vi của một cá nhân, thường liên quan đến nhiều lĩnh vực của nhân cách và gần như luôn luôn kết hợp với một cuộc đảo lộn cá nhân và xã hội lớn.Rối loạn nhân cách có khuyên hướng xuất hiện ở trẻ em lớn hoặc tuổi thanh thiếu niên và tiếp tục thể hiện ở tuổi thanh niên. Do vậy các chẩn đoán về rối loạn nhân cách trước tuổi 16-17 có thể không thích hợp. Những nguyên tắcchỉ đạo chẩn đoán chung áp dụng cho các rối loạn nhân cách được trình bày ở dưới có những mô tả bổ sung cho những nhóm nhỏ.

Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán:

Các trạng thái bệnh không thể trực tiếp gán cho một bệnh hay một tổn thương não nặng hay một rối loạn tâm thần khác và đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:

– Hành vi và thái độ thiếu hài hoà rõ rệt, thường chạm đến nhiều lĩnh vực hoạt động như cảm xúc, tính cảnh giới, kiểm tra, xung động,phương thửcti giác và tư duy, cách quan hệ với những người khác.

– Mô hình của hành vi bất thường kéo dài,dai dẳng và không hạn chế vào những giai đoạn của bệnh tâm thần.

– Mô hình hành vi bất thường lan toả và không thích ứng rõ ràng với phạm vi rộng lớn của các hoàn cảnh xã hội và cá nhân.

– Những biểu hiện nói trên luôn luôn xuất hiện trong thời trẻ em hoặc tuổi thanh thiếu niên và tiếp tục đến tuổi thành niên.

– Rối loạn đưa đến sự đau buồn cá nhân nặng nề…

– Rối loạn nhưng không phải luôn luôn kết hợp với những vấn đề quan trọng trong hoạt động nghề nghiệp và xã hội.

Để áp dụng cho các nền văn hoá khác nhau cần thiết phải phát triển những nhóm tiêu chuẩn chẩn đoán đặc hiệu có liên quan đến những chuẩn mực quy tắc và nghĩa vụ xã hội. Để chẩn đoán hầu hết các thể nhỏ liệt kê dưới đay, muốn có bằng chứng rõ ràng thường đòi hỏi ít nhất 3 nét hoặc hành vi đã ghi trong phần mô tả lâm sàng.

2.1.1. Những người thuộc nhóm này thường dùng đến những cơ chế bảo vệ như là phóng chiếu hoặc huyễn tưởng và có thể dễ bị loạn thần ( defense mechanisms of projection or fantasy) .

Sự phóng chiếu : Đó là hiện tượng quy kết cho người khác, cho rằng tư duy cảm xúc của một người nào đó là không thể chấp nhận được (ví dụ như: định kiến (prejudice), xoi mói(excessive faute – finding).

Sự huyễn tưởng: Bệnh nhân taọ ra một cuộc sống trong tưởng tượng mà ở đó chỉ có riêng bệnh nhân với sự cô độc. Sự huyễn tưởng này có thể rất phức tạp và nặng nề.

Paranoid : Đó là cảm giác bệnh nhân bị buộc tội hoặc bị người khác đối xử không công bằng. Những bệnh nhân Paranoid thường cảm giác rằng những người khác đang bình phẩm hoặc chế nhạo họ.

2.1.2. Về mặt sinh học , những bệnh nhân cùng với các rối loạn nhân cách nhóm A có thể dễ bị tổn thương và không thể nhận thức được khi gặp stress.

2.1.3. Bệnh nhân với rối loạn mhân cách dạng phân liệt (schizotypal patients) : Người ta nhận thấy rằng ở những bệnh nhân này có vài đặc điểm sinh học giống với bệnh nhân TTPL như là:

nồng độ men MAO (Monoamin -oxydase) thấp ở tiểu cầu và có hiện tượng rối loạn sự dõi mắt ( mắt nhìn theo một vật ).

– Không phải người nào có yếu tố di truyền về bịnh TTPL cũng đều bị loạn thần nhưng nhiều người trong số họ đã được chẩn đoán là rối loạn nhân cách dạng phân liệt.

– Ở trong những gia đình có người bị TTPL thì người ta cũng thấy rằng tỷ lệ người bị rối loạn nhân cách dạng phân liệt cũng gía tăng.

2.2.Nhóm B

Là nhóm gồm những người có những nét tính cách mang tính đồng bóng, xúc cảm và kịch tính . Nhóm này bao gồm : rối loạn nhân cách kịch tính (histrionic), chống đối xã hội (antisocial), ái kỷ (narcissistic), và rối loạn nhân cách ranh giới(bordeline).

– Những người thuộc nhóm này thường sử dụng những cơ chế bảo vệ như là : phân ly (dissociation), chối từ (denial), sự phân cắt (splitting), sự phản ứng (acting out).

+ Sự phân ly :Bệnh nhân thường quên đi những mối quan hệ cũng như những cảm giác khó chịu. Đó là một sự phân cắt một cách vô thức hoặc có ý thức giữa các hoạt động tâm thần và hành vi của bệnh nhân so với bình thường. Khi những rối loạn này nặng nề có thể dẫn đến rối loạn đa nhân cách .

+ Sự chối từ : thường phối hợp chặt chẽ với hiện tượng phân ly. Trong chối từ, bịnh nhân thường từ chối những cảm xúc ,suy nghĩ và ước muốn của mình nhưng người bệnh lại không nhận thức được những điều đó.

+ Sự tách rời : Thường thấy ở những bệnh nhân với rối loạn nhân cách ranh giới . Bịnh nhân phân chia con người ra thành những người tốt và những người xấu và không thể trải nghiệm với một mối quan hệ 2 chiều. Bịnh nhân cũng không thể chấp nhận được tính 2 chiều ngay cả khi quan sát chính bản thân mình.

+ Sự phản ứng : Đó là sự biểu hiện bằng hành động đối với những cảm xúc và suy nghĩ mà bệnh nhân không thể dung nạp được. Sự phản ứng này có thể biểu hiện bằng hành vi kích động tấn công hoặc hành vi tình dục.Những bịnh nhân cùng với những rối loạn nhân cách này thường dễ bị tổn thương đói với stress (ví dụ

– Rối loạn khí sắc: Thường gặp ở những nhóm B và nó là một nhóm quan tâm nhiều nhất.

–  Rối loạn kịch tính: Thường phối hợp với rối loạn nhân cách kịch tính.

2.3. Nhóm  C

Là nhóm  bao gồm những nét tính cách sợ hãi và lo âu. Thuộc nhóm này gồm có : rối loạn nhân cách tránh né , phụ thuộc và ám ảnh cưỡng bức.

2.3.1. Những người thuộc nhóm này thường sử dụng những cơ chế bảo vệ như là : cô lập , (isolation), phản ứng thụ động (passive agression) , hoặc nghi bệnh (hypochondriasis).

Sự cô lập: tức là bịnh nhân có những cảm giác, hành động hoặc ý tưởng tách rời và không phù hợp với cảm xúc. Những bịnh nhân này có thể nói lên những sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời họ với một vẻ bàng quan , không biểu lộ một chút cảm xúc nào.

 Phản ứng thụ động: bịnh nhân biểu lộ sự phản ứng một cách gián tiếp , bịnh nhân có thể quay trở lại chống chính anh ta. Những hành vi của phản ứng thụ động có thể là làm cho những cuộc thăm khám bị chậm trễ và bị thất bại , biến những cuộc tiếp xúc trở thành những trò đùa .

Nghi bịnh : thường gặp ở những bịnh nhân có rối lọan nhân cách đặc biệt là nhân cách phụ thuộc hay những bịnh nhân có phản ứng thụ động. Về mặt sinh học, ở những bịnh nhân này vỏ não dễ bị kích thích và tăng sự ức chế vận động. Vì vậy những kích thích Stress có thể tạo ra sự lo âu căng thẳng hoặc cảm xúc bị kích thích.

2.3.2. Những nghiên cứu ở trẻ sinh đôi cho thấy rằng có sự đóng góp của các yếu tố di truyền trong việc hình thành những rối lọan nhân cách ở nhóm C. Ví dụ những nét nhân cách ám ảnh cưỡng bức thường gặp ở những cặp sinh đôi cùng trứng hơn là ở những cặp sinh đôi khác trứng . Những bịnh nhân bị rối lọan ám ảnh cưỡng bức không phải có nguy cơ từ rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng bức.

III. NHỮNG RỐI LỌAN NHÂN CÁCH ĐẶC HIỆU Ở NHÓM A

Những rối lọan này gồm : rối lọan nhân cách dạng phân liệt ,nhân cách Paranoid vảối loạn nhân cách phân liệt. Những rối loạn này không được tính đến trong tiến triển của bệnh TTPL , các rối lọan lọan thần khác cũng như trong rối lọan phát triển lan tỏa ( Pervasive developmental disorder). Nếu như bịnh nhân có các tiêu chuẩn để chẩn đóan RL nhân cách rõ ràng trước khi khởi phát bệnh TTPL thì được coi như là một nhân cách tiền bệnh lý.

3.1.Rôí lọan nhân cách phân liệt

3.1.1. Nổi bật là hiện tượng tách rời những mối quan hệ xã hội và khó khăn trong việc diễn tả cảm xúc  cá nhân . Hiện tượng này thường xảy ra vào những năm đầu của thời kỳ trưởng thành . Chẩn đóan rối lọan nhân cách khi có ít nhất  4 trong số các đặc điểm sau :

– Không mong muốn cũng không hứng thú với các mối quan hệ thân mật kể cả quan hệ với các thành viên trong gia đình .

– hầu như luôn thích những họat động đơn độc (solitary activities).

– Rất ít hoặc gần như không hứng thú trong quan hệ tình dục.

– Không tìm thấy niềm vui trong công việc.

– Không có bạn thân ngoài những người trong gia đình.

– Không bận tâm đến những lời khen cũng như sự phê bình của người khác đối với mình.

– Cảm xúc lạnh nhạt (coldness), tách rời (détachement), thờ ơ (flattened).

3.1.2. Tỷ lệ bị rối lọan nhân cách phân liệt không được biết rõ do những bệnh nhân này hiếm khi đến điều trị.

3.1.3Tại các phòng khám nội – ngoại khoa

Những bệnh nhân tìm đến phòng khám khi có những bịnh lý đe dọa đến thế cân bằng của họ. Nếu như họ thấy bị xâm nhập quá nhiều họ sẽ càng xa lánh , thờ ơ và có thể trốn khỏi bệnh viện. Thâỳ thuốc nên tôn trọng khỏang cách ở bịnh nhân và phải hiểu rằng niềm tin của bệnh nhân đối với mình chỉ có được sau một thời gian dài và không nên đòi hỏi sự bày tỏ cảm xúc ở bịnh nhân.

3.1.4.Điều trị

Những bệnh nhân này thường ít khi tìm đến thầy thuốc để yêu cầu điều trị. Nếu họ tìm đến thầy thuốc nên tôn trọng và chân thành khi giao tiếp với họ. Liệu pháp tâm lý cá nhân chỉ có thể sử dụng khi bắt đầu điều trị. Tuy nhiên liệu pháp nhóm sẽ thành công hơn nếu như bệnh nhân chấp nhận dùng liệu pháp này.

3.2.Rối lọan nhân cách Paranoid

3.2.1. Định nghĩa (theo DSM IV)

Những đặc điểm chính của rối lọan nhân cách Paranoid là sự nghi ngờ không có cơ sở,  không tin tưởng và nhạy cảm đối với người khác cũng như khó khăn trong việc diễn đạt cảm xúc của mình. Những người này phải không bị TTPL cũng như các rối lọan lọan thần khác. Tuy nhiên cũng có những bệnh nhân bị rối lọan này vẫn có khả năng xét đóan tốt, họ có khả năng và nhiệt tình (energetic & capable), họ không suy diễn những hành động của người khác thành những mối đe dọa cho họ hoặc là một sự nhạo báng họ.

3.2.2.Triệu chứng

Chẩn đoán rối lọan này khi có ít nhất 3 trong số các đặc điểm sau:

– Bệnh nhân nghi ngờ không có cơ sở là những người khác lợi dụng hoặc lừa gạt họ.

– Bệnh nhân thường nghi ngờ về lòng trung thành của bạn bè.

– Bệnh nhân không muốn tin tưởng vào ngườ khác, luôn lo sợ vô cớ rằng những tin tức về bản thân sẽ được sử dụng để chống lại họ.

– Bệnh nhân cho rằng che dấu dưới một sự kiện bình thường có thể là một sự đe dọa hoặc một sự lăng nhục đối với họ.

– Bệnh nhân thường thù hằn dai dẳng ( không thể tha thứ cho những sự lăng mạ , những tổn thương mà người khác taểia cho họ) .

– Bệnh nhân cho rằng mọi sự công kích đều nhằm vào họ  mà không nhằm vào người nào khác và vì vậy anh ta sẽ phản ứng lại một cách giận dữ.

– Bệnh nhân thường nghi ngờ vô cớ về sự trung thành của vợ hoặc chồng mình.

3.2.3.Tỷ lệ

Tỷ lệ bị rối lọan này không rõ. Những người bị rối lọan này thường tụ tập lại theo từng nhóm tôn giáo riêng, những nhóm giả khoa học (pseudoscientific) và giả chính trị (pseudopolitical). Những bệnh nhân này thường xa lánh mọi người , coi người khác như là kẻ thù và có những phản ứng tiêu cực với thế giới bên ngòai.

3.2.4.Tại các phòng khám nội – ngoại khoa:

Những bệnh lý nội ngoại khoa thường làm tăng thêm những nét rối lọan nhân cách ở bệnh nhân Paranoid. Họ thường trở nên đề phòng , nghi ngờ và hay gây gỗ hơn. Họ thường nhạy cảm với sự coi thường và phóng chiếu (project) những mối bận tâm của mình cho người khác. Thầy thuốc nên lịch sự , chân thành và tôn trọng sự phòng vệ của bịnh nhân. Thầy thuốc cũng cần thẳng thắn và giải thích mọi chuyện cho bịnh nhân và cũng không nên mong đợi rằng bịnh nhân sẽ tin tưởng mình.

 3.2.5.Điều trị

Người bệnh ít khi tìm đến điều trị. nếu họ đến thì thầy thuốc phải chân thành và tôn trọng họ. Ví dụ như khi có lỗi, ( chẳng hạn đến trễ hẹn ) thì người thầy thuốc nên nhận lỗi và xin lỗi bệnh nhân ngay. Mục đích của điều trị là giúp cho bệnh nhân hiểu rằng không phải mọi khó khăn và phiền phức là do người khác tạo ra.

– Liệu pháp tâm lý cá nhân có thể dùng trong giai đọan bắt đầu điều trị.

– Đôi khi bệnh nhân có thể chấp nhận liệu pháp tâm lý nhóm.

– Bác sĩ điều trị không nên tạo ra một sự gần gũi , thân mật với bệnh nhân một cách quá nhanh chóng. Nhiều bịnh nhân có thể đe dọa , kích động và tạo ra một thái độ thù nghịch.

– Những thuốc chống lọan thần có thể sử dụng với liều thấp trong một thời gian ngắn để điều trị kích động. Tuy nhiên thầy thuốc phải giải thích cho bịnh nhân hiểu tác dụng phụ của thuốc.

3.3.Rối lọan nhân cách dạng phân liệt

3.3.1. Định nghĩa

Những nét chính của rối lọan này là có những suy nghĩ , điệu bộ , hành vi dị kỳ khó hiểu, xa lạ. Những đặc điểm khác thường này không đủ nghiêm trọng để chẩn đóan là TTPL và những bịnh nhân này cũng không có tiền sử loạn thần .

3.3.2.Triệu chứng

Đặc trưng bởi những thiếu sót trong quan hệ cá nhân và xã hội , khả năng giao tiếp của họ bị giảm sút , những bịnh nhân này có rối lọan nhận thức và những hành vi dị kỳ . Muốn chẩn đóan rối lọan này phải có ít nhất 5 trong số các triệu chứng sau :

– Ý tưởng liên hệ ( Không kể đến hoang tưởng liên hệ ).

– Có những niềm tin và suy nghĩ kỳ quái chi phối hành vi, thái độ của bịnh nhân và những niềm tin này không phù hợp với nền văn hóa nhóm ( ví dụ tin tưởng vào siêu nhiên, siêu hình , tin vào ngoại cảm, và bịnh nhân thường huyễn tưởng hoặc những lo lắng kỳ lạ).

– Có những trải nghiệm về tri giác bất thường ( ảo tưởng bản thể).

– Có những lời nói và suy nghĩ dị kỳ (odd thinking and speech) : mơ hồ , ẩn dụ , định hình , chi li.

– Có ý tưởng nghi ngờ hoặc ý tưởng paranoid.

– Cảm xúc khô khan và không thích hợp.

– Dáng vẻ và hành vi dị kỳ , khó hiểu.

– Không có bạn thân ngoài những người trong gia đình.

– Có một sự lo lắng quá mức và không giảm bớt khi ở trong môi ttrường thân thuộc và có khuynh hướng kết hợp với nỗi sợ hãi của rối loạn nhân cách Paranoid.

3.3.3.Tỷ lệ

Có vài nghiên cứu báo cáo rằng tỷ lệ bị rối lọan này là khỏang 3% trong dân số.

3.3.4.Tại phòng khám nội – ngoại khoa

Khi những người bị rối lọan này mắc các benh lý nội , ngoại khoa thì việc điều trị cho họ cũng có những khó khăn như khi điều trị cho những bịnh nhân bị  rối lọan nhân cách phân liệt . Những bịnh nhân với rối lọan nhân cách này thường xa lánh những người chăm sóc họ.

3.3.5. Điều trị

Nếu bịnh nhân đến điều trị người thầy thuốc phải chân thành khi giao tiếp với bịnh nhân. Những hành vi dị kỳ ở những bịnh nhân này có thể gây nên những khó khăn cho thầy thuốc , thầy thuốc phải tránh mọi sự chế nhạo, bông đùa. Điều trị với liệu pháp nhóm có nhiều cơ hội thành công hơn là liệu pháp cá nhân. Tuy nhiên chỉ có một số ít bịnh nhân chấp nhận điều trị bằng liệu pháp nhóm. Người thầy thuốc nên tôn trọng khỏang cách tâm lý của bịnh nhân và không nên mong rằng sẽ có thể hình thành nên được một mối quan hệ gần gũi, thân mật với bịnh nhân.

  1. CÁC RỐI LỌAN NHÂN CÁCH Ở NHÓM B

4.1.Rối lọan nhân cách chống đối xã hội

4.1.1. Những bịnh nhân với rối lọan này trong tiền sử đã có nhiều lần có hành vi chống đối xã hội kéo dài và liên tiếp mà những hành vi này đã xâm phạm đến quyền lợi của người khác.

* Thiếu sót chính của rối lọan này là bịnh nhân không thể kiểm sóat được các xung động của họ và những xung động này sẽ dịu đi khi họ được chìu chuộng.

* Những người bị rối lọan này thường không quan tâm đến cảm xúc cuả người khác, họ thường là những người vi kỷ, ích kỷ và thường yêu sách quá đáng (excessive demanding), họ thường không nhận thấy lỗi lầm của mình và không hề ăn năn, cũng như không hề lo lắng về những gì họ đã làm.

*Những người với rối loạn này thường hay vi phạm luật pháp và xâm phạm vào những phong tục tập quán của cộng đồng nơi họ sống.

4.1.2.Triệu chứng 

* Thường xảy ra ở độ tuổi >= 18 tuổi.

* Có những biểu hiện của rối lọan hạnh kiểm bắt đầu lúc <15 tuổi.

* Từ lúc 15 tuổi bịnh nhân đã không hề quan tâm đến việc mình xâm phạm đến quyền lơị của người khác. Điều này thể hiện khi có ít nhất 3 trong số những triệu chứng sau:

– Không thừa nhận các quy tắc xã hội, không tôn trọng luật pháp.

– Dễ bị kích thích và kích động ( thường xuyên đánh nhau và hành hung ).

– Vô trách nhiệm (thể hiện qua công việc làm).

– Có những xung động hoặc không thực hiện được những kế họach đã dự tính trước.

– Lừa gạt ( thường hay  nói dối, sử dụng bí danh và lừa gạt người khác chỉ vì lợi ích và thú vui của riêng mình).

– Liều lĩnh , coi thường sự an tòan của mình và của người khác.

– Không hề ăn năn (không quan tâm đến những thiệt hại của người khác và không hề sửa đổi lỗi lầm).

* Không chẩn đóan RL này khi bịnh nhân đang bị TTPL hoặc đang ở trong giai đọan hưntg cảm.

 4.1.3.Dịch tễ học

Ở Mỹ tỷ lệ bị rối lọan này được ước tính khỏang 3% ở nam giới và theo nghiên cứu của ECA (Epidemiologic catchment area) thì tỷ lệ hiện mắc cả đời người (lifetime prevalence ) của nam là >7% và của nữ là1%.

4.1.4.Nguyên nhân : không rõ.

– Thường có tiền sử gia đình về RL nhân cách chống đối xã hội ở cả 2 giới. Cả 2 yếu tố di truyền và môi trường đều có vai trò trong rối lọan này. một người bố bị rối lọan này thì con của ông ta có thể bị hoặc không bị rối lọan này. Những gia đình có người nghiện rượu cũng có nguy cơ cao bị loại RL này.

– Một vài hành vi chống đối xã hội là thứ phát sau những tổn thương ở não như chấn thương sọ não hoặc viêm não. Trong trường hợp này thì chẩn đóan thích hợp là thay đổi nhân cách do bịnh lý thực thể.

– Những nghiên cứu khác cho thấy rằng ở những gia đình mà bố mẹ mâu thẫn với nhau thì con cái dễ bị rối loạn nhân cách chống đối XH hơn là ở những đứa trẻ bị mất bố hoặc mẹ.

4.1.5. Bệnh lý nội ngoại khoa

Tại phòng cấp cứu thường xảy ra mâu thuẫn giữa thầy thuốc và những bịnh nhân này. Những xung động có thể dẫn đến ẩu đả , tự sát hoặc đả thương người khác. Nghiện độc chất cũng thường phối hợp với RL này.

– những bịnh nhân này có thể tạo được thiện cảm ban đầu khi họ gặp Stress và không gây ra phiền phức gì nhưng nếu có cơ hội thì họ sẽ chống lại các quy tắc của bệnh viện.

– Những bịnh nhân trẻ với RL này thường chống lại thầy thuốc và không hợp tác điều trị . Họ có thể trốn viện hoặc có hành vi đập phá tại các bệnh viện.

4.1.6.Điều trị

– Hạn chế những hành vi tội phạm là chủ yếu. Nhìn chung những đơn vị điều trị nội trú chỉ là nơi kiểm sóat hành vi và xung động. Điều trị nội trú thường không hòan tòan do bịnh nhân thường bỏ điều trị khi những cảm xúc khó chịu không còn nữa.

– Liệu pháp nhóm thường có ích hơn là liệu pháp cá nhân vì bịnh nhân cảm thấy mình ít bị chi phối và điều khiển. Những nhóm bịnh nhân nội trú thường có thể đối phó với thái độ chống đối XH vì ở mỗi nhóm có các chuyên gia nhận biết  những thái độ này. Liệu pháp nhóm cũng có thể được sử dụng tốt ở cộng đồng.

– Thuốc để kiểm sóat kích động ở những bịnh nhân bị suy giảm chức năng của não. Các thuốc hiện đang được sử dụng là b blocker , SSRI và buprobion.

– Phải điều trị tình trạng nghiện độc chất kèm theo.

4.2. Rối lọan nhân cách ranh giới ( Borderline personality disorder)

4.2.1.Định nghĩa

– Nguồn gốc của từ ” borderline” : thuật ngữ ” ranh giới” được bắt nguồn từ quan điểm rối lọan này là ranh giới giữa chức năng và lọan thần. RL này cũng còn được gọi là TTPL ranh giới ,Tâm thần phân liệt  giả tâm căn, nhưng hiện nay rối lọan này đã được phân biệt với Tâm thần phân liệt.

– Những đặc điểm quan trọng nhất của rối lọan này đó là khí sắc không ổn định, những mối quan hệ cá nhân không bền vững và tính cách của bịnh nhân cũng dễ thay đổi. Một rối lọan đặc trưng là bịnh nhân thường không chắc chắn về nguồn gỗc giới tính của mình ( sexual orientation), không có mục tiêu rõ ràng, dễ thay đổi bạn bè và ngay cả hình ảnh bản thân .

4.2.2.Triệu chứng

Có những mối quan hệ cá nhân không bền vững , cảm xúc không ổn định, hình ảnh bản thân cũng dễ thay đổi và khó kiềm chế được những xung động. Những triệu chứng này thường bắt đầu ở thời kỳ thiếu niên và xảy ra ở nhiều tình huống khác nhau. Chẩn đoán RL nhân cách ranh giới khi có ít nhất 5 trong số những triệu chứng sau:

– Nổ lực điên cuồng để tránh né sự bỏ rơi thực sự hoặc sự bỏ rơi mà bịnh nhân tưởng tượng ra.

–  Có những mối quan hệ cá nhân căng thẳng và không bền vững .

– Cảm xúc cá nhân không ổn định, hình ảnh bản thân bị bóp méo và dễ thay đổi.

– Xung động mà thường là sự hủy hoại bản thân tiềm tàng ( potentially self demaging) như là : tiêu xài phung phí, lạm dụng tình dục , nghiện độc chất , lái xe bạt mạng , ăn uống vô độ.

– Có những hành vi tự sát hoặc dọa tự sát hoặc tự hủy hoại cơ thể (self mutilating behavior) tái diễn.

– Cảm xúc không ổn định : căng thẳng bồn chồn, lo âu , dễ bị kích thích tình trạng này kéo dài trong vài giờ và hiếm khi kéo dài hơn.

– Có cảm giác trống rỗng kéo dài( chronic feeling of emptiness).

– Có những cơn căng thẳng , giận dữ không phù hợp với hòan cảnh và không kiểm sóat được ( giận dữ thường xuyên và thường hay đánh nhau).

– Có những ý tưởng Paranoid liên quan đến stress thóang qua hoặc có những triệu chứng phân ly nặng.

4.2.3.Tỷ lệ : 1-2% dân số bị rối lọan này . nữ gấp 2 lần nam. Trong số những bịnh nhân này thì có đến 90% bịnh nhân đã được chẩn đoán là mắc các bịnh lý tâm thần khác .

4.2.4.Nguyên nhân : Hầu hết những giả thuyết về nguyên nhân gây nên rối lọan này đều cho rằng trong giai đọan đầu của thời kỳ hình thành nhân cách những bịnh nhân này thường gặp những rắc rối, thường gặp nhất là trẻ em bị ngược đãi nặng nề ( về tình dục, vè mặt cơ thể hoặc bị chửi mắng). Trình độ nhận thức kém và giảm nồng độ serotonin cũng được xem là nguyên nhân gây nên rối lọan này.

4.2.5.Tại các phòng khám nội ngoại khoa

Khi những bịnh nhân này mắc thêm các bịnh lý khãc thì họ thường dễ bị bộc phát những triệu chứng của rối lọan nhân cách và càng dễ bị ảnh hưởng cuả Stress. Các bịnh lý nội ngoại khoa có thể đe dọa thế cân bằng về mặt cảm xúc mà bịnh nhân đã cố gắng thiết lập được.

4.2. 6. Điều trị

* Tâm lý liệu pháp: có 2 phương pháp

– Phương pháp tâm lý động(psychodynamic approach) : mục dích của phương pháp này là tìm hiểu những điểm mấu chốt về mặt tâm lý bịnh học. Nói chung sử dụng phương pháp tâm lý trong thời gian dài sẽ gặp nhiều khó khăn vì bịnh nhân sẽ có khuynh hướng rút lui hoặc phản ứng căng thẳng với thầy thuốc.

– Liệu pháp nhận thức thực tế (treatment oriented toward supportive reality): Đó là sự đương đầu với thực tế hơn là 1 sự can thiệp vào thực tế. Người thầy thuốc sẽ giúp cho bịnh nhân hiểu được những xáo trộn trong lòng anh ta và liên kết những cảm xúc này với hành vi thái độ của anh ta. Người thầy thuốc phải đưa ra những giới hạn và cách thức hành động cho bịnh nhân. Phương pháp này thích hợp ở những phòng khám đa khoa.

* Hóa liệu pháp: Đây là một phương pháp điều trị quan trọng về mặt lâm sàng mặc dù những cải thiện về hành vi và khí sắc khi dùng hóa liệu pháp vẫn còn khiêm tốn.

– Ức chế men MAO (ví dụ Tranylcypromine) có hiệu quả trong việc cải thiện những triệu chứng cảm xúc nhưng lại không thay đổi được hành vi. Fluoxetin (1loại SSRI) cũng có hiệu quả trong việc kiểm sóat xung động và các hành vi hủy hoại cơ thể của bịnh nhân.

– Carbamazepine : là 1 loại thuốc chống co giật cũng cho thấy có hiệu quả trong việc kiểm sóat xung động

– Những thuốc chống lọan thần : dùng với liều thấp cũng có kết quả trong những giai đoạn nặng.

– Benzodiazepine : thường bị chống chỉ định ở hầu hết những bịnh nhân vì chúng gây ra hiện tượng giải ức chế và có thể gây nghiện thuốc.

4.3. Rối lọan nhân cách ái kỷ

4.3.1Định nghĩa

Những người bị rối lọan nhân cách ái kỷ thường đánh giá cao tầm quan trọng của mình nhưng họ cũng rất nhạy cảm đối với sự phê phán. Họ thường ít có năng lực để tự khẳng định mình với người khác vì vậy họ thường biểu hiện sự lôi cuốn của mình bằng hình dáng bên ngoài hơn là tài năng của họ.

4.3.2.Triệu chứng

Những bịnh nhân ái kỷ thường tự cao , mong muốn được ngưỡng mộ và thiếu sự thông cảm với người khác. Những triệu chứng này thường bắt đầu ở giai đọan đầu của thời kỳ trưởng thành và xuất hiện trong những hòan cảnh khác nhau. Chẩn đóan rối lọan này khi có ít nhất 5 trong số những triệu chứng sau:

* Đánh giá cao về tầm quan trọng của bản thân ( thổi phồng những kết quả đạt được và đánh giá cao tài năng của mình, mong muốn người khác đánh giá mình cao mặc dù không tương xứng với những gì mình làm được).

* Luôn bận tâm với những điều huyễn tưỏng như là : sự thành công không không có giới hạn, quyền lực , trí thông minh, sắc đẹp hoặc ý tưởng được yêu.

– Tin tưởng rằng mình là người đặc biệt và độc đáo mà chỉ có những người tài giỏi hoặc đặc biệt khác mới hiểu được mình.

–  Đòi hỏi được ngưỡng mộ một cách quá đáng.

–  Mong muốn được chìu chuộng và tự dễ dãi với bản thân.

– Lấy những kết quả thành tựu của người khác làm kết quả của bản thân mình.

– Thiếu sự thông cảm ( không muốn biết đến những nhu cầu và cảm giác của người khác)

h Ghen tị với người khác và nghĩ rằng người khác ghen tỵ với mình .

– Kiêu ngạo : có những hành vi và thái độ ngạo mạn.

4.3.3. Tỷ lệ : Không được biết . Mặc dù gần đây chẩn đóan này được sử dụng nhiều hơn, nhưng người ta quan tâm đến những biểu hiện của rối lọan này hơn là đến tỷ lệ mắc nó.

4.3.4.Những đặc điểm phối hợp : Trầm cảm thường phối hợp với rối lọan này. Những đặc điểm khác của rối lọan nhân cách nhóm B cũng thường gặp trong rối lọan này.

4.3.5. Tại các phòng khám nội ngoại khoa

Những bịnh nhân này thường phản ứng lại những bịnh lý vì đó là mối đe dọa đến cảm giác tự cao và sự hòan hảo của anh ta. Khi bị bịnh những nét đặc trưng về mặt cá tính lại càng tăng. Bịnh nhân có thể quá lý tưởng hoặc không tin tưởng vào thầy thuốc. Những bịnh nhân này mong muốn được đối xử đặc biệt. Những bịnh nhân này có khuynh hướng tạo ra những phản ứng tiêu cực cho những người chăm sóc họ. Những cảm giác giận dữ và chán nản đều có thể xảy ra. Rối lọan này thường tạo nên khó khăn cho thầy thuốc nhiều hơn là cho bịnh nhân.

4.3.6. Điều trị

* Liệu pháp cá nhân : thường được chọn lựa. Phương pháp này có mục đích là cố gắng tìm hiểu những nỗi đau mà bịnh nhân phải chịu đựng.

– Người thầy thuốc phải đối đầu với sự chuyển đổi thái độ từ trạng thái quá lý tưởng sang trạng thái không tin tưởng vào thầy thuốc.

– Sự thay đổi thái độ này có thể diễn ra mạnh mẽ khi người thầy thuốc không hiểu và không thông cảm hòan tòan với bịnh nhân.

– Một điều quan trọng là thầy thuốc phải chân thành, không được biện minh cho sai phạm của mình.

* Liệu pháp nhóm : thường phối hợp với liệu pháp cá nhân.

4.4. Rối lọan nhân cách kịch tính

4.4.1. Định nghĩa

Những bịnh nhân bị RL này thường ăn mặc sặc sỡ, tìm kiếm sự chú ý của người khác và biểu lộ cảm xúc quá mức. Cảm xúc của họ thường nông cạn hời hợt và thay đổi nhanh . Họ thường lôi cuốn sự chú ý của người khác bằng dáng vẻ bề ngoài . RL này trước đây được gọi là nhân cách “hysterie” nhưng hiện nay từ này không còn được dùng nữa do ý nghĩa của từ “ hystérie”.

4.4.2.Triệu chứng

Những bịnh nhân bị RL này được đặc trưng bởi sự biểu lộ cảm xúc quá mức,tìm kiếm sự chú ý của người khác và thường biểu hiện ở giai đọan đầu của thời kỳ trưởng thành và xuất hiện ở nhiều tình huống khác nhau. Chẩn đóan rối lọan này khi có ít nhất 5 trong số các triệu chứng sau:

* Không thoải mái trong những tình huống mà bịnh nhân không phải là trung tâm của sự chú ý.

* Can thiệp đến người khác bằng những hành vi trêu chọc, khiêu khích hoặc bằng những cám dỗ tình dục không thích hợp (inappropriately sexually seductive).

* Không thành thật (biểu lộ cảm xúc hời hợt nông cạn và dễ thay đổi).

* Thường sử dụng vẻ bề ngoài để lôi cuốn sự chú ý của người khác.

* Khi nói thường chú ý đến sự diễn cảm của lời nói hơn là chú ý đến nội dung.

* Tự kịch tính hóa ( self dramatization ).

* Dễ bị ám thị (dễ bị ảnh hưởng bởi người khác và bởi hoàn cảnh)

h/ Thêu dệt những mối quan hệ (aggrandize relationships).

4.4.3.Tỷ lệ

Không biết một cách chính xác. Thường được chẩn đóan ở nữ nhiều hơn ở nam.

4.4.4. Những đặc điểm kết hợp

RL khí sắc và RL cơ thể hóa thường gặp , đặc biệt là trầm cảm.

4.4.5. Các bịnh lý nội -ngoại khoa

* Những bịnh nhân này thường quyến rũ và mê hoặc thầy thuốc nhất là khi họ khác giới với bịnh nhân.

* Những bịnh nhân thường nghĩ đến những bịnh lý thực thể như là một sự đe dọa đến sự lôi cuốn bề ngoài của họ.

* Những người đàn ông thường cư xử với BS và y tá nữ bằng những cám dỗ tình dục , những hành vi này có thể là để che đậy những quan hệ lệ thuộc sâu sắc hơn, họ nghĩ rằng họ có thể được chăm sóc do những quyến rũ về giới tính và những hành vi này càng nổi bật hơn dưới ảnh hưởng của bịnh lý hoặc stress. Thầy thuốc nên gần gũi với bịnh nhân trong phạm vi nghề nghiệp và nhắc nhở bịnh nhân về vai trò của họ đồng thời một điều quan trọng là không được phê phán bịnh nhân.

4.4.6. Điều trị

* Tâm lý liệu pháp : cả liệu pháp nhóm và liệu pháp cá nhân đều được lựa chọn trong điều trị rối lọan này. Nói chung người thầy thuốc cần giúp cho bịnh nhân hiểu và nhận thức được những cảm xúc thật sự của họ được che dấu dưới những hành vi kịch tính.

* Thuốc chống trầm cảm: đặc biệt là thuốc ức chế men MAO và SSRI thường tỏ ra có hiệu quả trong điêù trị rối loạn khí sắc thường phối hợp với RL này.

  1. RỐI LOẠN NHÂN CÁCH ĐẶC HIỆU Ở NHÓM C

5.1.Rối loạn nhân cách tránh né

5.1.1. Định nghĩa

Những người bị RL này thường nhút nhát , e thẹn nhưng họ lại mong muốn có nhiều bạn. Cần phải phân biệt họ với những bịnh nhân bị RL nhân cách phân liệt . Họ thường cảm thấy không thoải mái và sợ bị phê bình đến nỗi họ không muốn và thường né tránh những quan hệ xã hội. Nếu như họ chắc chắn rằng họ không bị phê bình và được chấp nhận thì họ sẵn sàng kết bạn. Họ thường tự buộc tội và đánh giá thấp bản thân.

5.1.2.Triệu chứng

Những người bị RL này thường tránh né những cuộc giao tiếp xã hội , quá nhạy cảm đối với sự phê bình . Những triệu chứng này thường bắt đầu xuất hiện ở giai đọan đầu của thời kỳ trưởng thành và xuất hiện trong những tình huống khác nhau. Chẩn đóan RL này nếu như có ít nhất 4 trong số những triệu chứng sau :

* Tránh né những họat động nghề nghiệp mà họ phải giao tiếp nhiều vì họ sợ bị phê bình hoặc bị từ chối.

* Không muốn gặp gỡ với những người khác trừ khi họ chắc chắn rằng họ sẽ được yêu thích.

* Họ thường tự kiềm chế những mối quan hệ thân mật do sợ bị xấu hổ hoặc bị trêu chọc.

* Thường lo lắng bị phê bình hoặc bị từ chối.

* Thường hạn chế những mối quan hệ cá nhân mới.

* Họ thường nghĩ rằng họ lạc lõng và thấp kém hơn những cá nhân khác.

* Họ thường không thích bất cứ một hoạt động mới nào hoặc những mối quan hệ cá nhân mới nào do sợ bị bối rối .

5.1.3. Dịch tễ học

 Tỷ lệ mắc RL này ít được biết , những tỷ lệ mắc RL này trong gia đình và về giới rất ít được biết đến.

5.1.4. Những đặc điểm kết hợp  Thường gặp là sợ XH và sợ khoảng không.

5.1.5. Những bệnh lý nội ngoại khoa

Không giống như những bịnh nhân bị RL nhân cãch phân liệt những bịnh nhân bị RL này thường hợp tác điều trị và không yêu sách. Những bịnh lý thực thể có thể cho phép họ được chăm sóc và thiết lập nên những mối quan hệ mới với nhũng nhân viên y tế. Họ thường nhạy cảm đối với sự phê phán và có thể hiểu sai những tình huống không rõ ràng thành ra sự xúc phạm và trêu chọc vì thế họ sẽ thu mình lại.

5.1.6. Điều trị

* Tâm lý liệu pháp : Liệu pháp nhóm và liệu pháp cá nhân đều có hiệu quả.

* Sự rèn luyện : có thể mang đến cho những bịnh nhân này những kỷ năng giao tiếp mới.

5.2.Rối lọan nhân cách phụ thuộc

5.2.1. Định nghĩa

Những người bị RL này thường thụ động . Họ cho phép những người khác hướng dẫn chỉ bảo cho cuộc sống của họ vì họ không thể làm được điều này. Vợ chồng hoặc bố mẹ họ có thể quyết định cho họ những việc quan trọng như sống ở đâu và làm nghề gì.

* Những người bị RL này thường đặt nhu cầu của bản thân sau những nhu cầu của người mà họ phụ thuộc. Những người này thường thiếu tự tin và tự nhìn mình như những kẻ ngu đần hoặc vô dụng.

* Một vài tác giả cho rằng sự có mặt của rối lọan này có thể là có vai trò của nền văn hóa(ví dụ ở một số nược thì sự phụ thuộc này còn tùy thuộc vào giới tính hoặc chủng tộc.).

5.2.2. Triệu chứng

Một người bị RL này thường đòi hỏi được chăm sóc một cách quá mức dẫn đến dễ phục tùng và sợ bị bỏ rơi. Chẩn đóan RL này khi có ít nhất 5 trong số những triệu chứng sau:

* Không thể quyết định được điều gì nếu như không có lời khuyên hoặc sự bảo đảm của người khác.

* Yêu cầu những người khác chịu trách nhiệm cho những quyết định chính trong cuộc sống của mình.

* Khó nói lên sự bất đồng với những người khác vì sợ bị bỏ rơi hoặc không được ủng hộ.

* Khó khăn trong việc bắt đầu một dự án hoặc làm một điều gì đó (do thiếu khả năng và thiếu tự tin hơn là không có đủ sức để làm.).

* Để đạt được sự ủng hộ và giúp đỡ của những người khác họ sẵn lòng làm những việc mà họ không thích.

* Cảm thấy không thoải mái và cần được giúp đỡ khi ở một mình vì sợ rằng mình không thể tự chăm sóc được.

* Nhanh chóng tìm kiếm những mối quan hệ mới để được chăm sóc và hổ trợ khi những mối quan hệ cũ kết thúc.

* Nỗi lo lắng không có thật vì sợ bị bỏ rơi.

5.2.3. Dịch tễ học

Tỷ lệ mắc RL này không được biết , nhưng những nét về tính cách thụ động và phụ thuộc là thường gặp. Chẩn đoán này thường gặp ở phụ nữ và trẻ em hơn.

5.2.4. Những đặc điểm phối hợp

Những đứa trẻ bị rối lọan tâm thần kéo dài hoặc những người thường lo sợ bị bỏ rơi thường có nguy cơ mắc RL này khi lớn lên và trầm cảm cũng thường phối hợp với RL này.

 5.2.5. Các bệnh lý nội ngoại khoa

* Với những bệnh nhân này khi bị bệnh có nghĩa là họ sẽ được chăm sóc . Tuy nhiên, bịnh lý có thể khuấy động lên những cảm giác khó chịu ở những bịnh nhân này như là nỗi sợ hãi bị bỏ rơi hoặc không được giúp đỡ. Nhìn chung khi bị bịnh thì những cảm giác về sự phụ thuộc càng tăng và những bịnh nhân này thường trở nên yêu sách và hay phàn nàn khi bị bịnh.

* Những thầy thuốc cần phải đưa ra những sự giới hạn. Một điều quan trọng đó là thầy thuốc , y tá và những nhân viên khác cần phải lập ra kế hoạch chăm sóc cho những bịnh nhân này . Nếu như điều này không được làm sớm thì những phản ứng tiêu cực do những bịnh nhân này tạo ra có thể dẫn đến những hành vi trừng phạt (punitive behavior) cho những người chăm sóc.

5.2.6. Điều trị

* Tâm lý liệu pháp : có thể rất có hiệu quả khi điều trị những bịnh nhân bị RL này. Liệu pháp tập trung vào những hành vi hiện tại và những hậu quả của nó. Người thầy thuốc cần phải thận trọng vì sự thách thức đối với thầy thuốc không phải là do bịnh lý mà thường do những mối quan hệ phụ thuộc . Bịnh nhân có thể từ bỏ điều trị hơn là phải từ bỏ những mối quan hệ này .

* Liệu pháp hành vi , bao gồm cả sự luyện tập có thể có hiệu quả.

5.3. Rối lọan nhân cách ám ảnh cưỡng bức

5.3.1.Định nghĩa

Những người cùng với rối loạn này thường cầu tòan, cứng nhắc và không thể diễn đạt những tình cảm cởi mở và dịu dàng. Họ thường bận tâm với những chi tiết vụn vặt và những quy tắc không có giá trị , họ không thể làm những thay đổi thích hợp trong những công việc thường ngày.

Rối loạn ám ảnh cưỡng bức là một rối lọan lo âu trục I mà có liên quan đến thời gianám ảnh và cưỡng bức, cần phải phân biệt rối lọan này với rối lọan nhân cách ám ảnh cưỡng bức. Những người bị rối lọan ám ảnh cưỡng bức có thể không có rối lọan nhân cách và những người bị rối lọan nhân cách có thể không có rối lọan lo âu.

5.3.2. Triệu chứng

Một người với rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng bức thường bận tâm đến những mệnh lệnh, sự cầu toàn, những kiểm soát bên trong và bên ngoài . những dấu hiệu này thường bắt đầu ở giai đọan đầu của thời kỳ trưởng thành và xảy ra trong nhiều tình huống khác nhau. Chẩn đóan rối lọan này khi có ít nhất 4 trong số những triệu chứng sau:

* bận tâm đến những chi tiết ,những quy tắc ,những danh sách, trật tự và những sự sắp xếp mà không quan tâm đến những hoạt động chính.

* cầu tòan đến mức làm cản trở sự hòan tất công việc.

* Dành hết thời gian cho công việc và năng suất đến nỗi không chú ý đến những hoạt động giải trí và những quan hệ bạn bè ( không kể những trường hợp phải làm việc vì những nhu cầu kinh tế bắt buộc).

* Quá tỉ mỉ, chú ý và cứng nhắc trong các vấn đề về đạo đức , luân lý và nguyên tắc (không tính đến những trưòng hợp do ảnh hưởng của nền văn hóa hoặc tôn giáo).

* Không thể vứt bỏ những vật dụng không có giá trị ngay cả khi chúng không có một giá trị tinh thần nào.

* Miễn cưỡng khi phải giao những nhiệm vụ  hoặc  khi phải làm việc với người khác trừ khi họ chịu làm theo một cách chính xác như những gì mà bịnh nhân làm.

* Bủn xỉn cả với mình và với người khác ( tiền là để dự trữ cho những tai ương có thể xảy ra).

* Cứng nhắc và bướng bỉnh.

5.3.3.Tỷ lệ

RL này thường gặp nhiều ở nam mặc dù tỷ lệ chính xác là không được biết.

5.3.4. Những đặc điểm phối hợp

Những người bị RL này thường có ít bạn bè . Họ thường khó sống với người khác . Họ thường làm rất tốt những công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ , chính xác và ít có sự can thiệp của người khác . Nghi bịnh có thể gặp ở những người này vào giai đoạn sau của cuộc đời.

5.3.5. Những bịnh lý nội ngoại khoa

* Những người bị RL này cho rằng bịnh lý có thể là một sự đe dọa đến khả năng kiểm soát xung động của họ. Nhìn chung, stress sẽ làm tăng thêm những hành vi cưỡng bức cùng với sự căng thẳng vì phải tự kiềm chế và sự ngoan cố.

– Những bịnh nhân này trở nên cứng nhắc hơn so với trước đó, điều này có thể dẫn đến sự than phiền về sự luộm thuộm của bịnh viện và đánh giá không đúng về sự chăm sóc được dành cho mình.

– Khi những bịnh nhân này bị phê phán vì không thực hiện đúng những tiêu chuẩn của chính họ đề ra người thầy thuốc không nên biện minh cho họ. Có thể có hiện tượng mất kiểm sóat ở một số bịnh nhân bị RL này, điều này có thể là một sự thách thức cho thầy thuốc của họ

* Việc kiểm sóat bịnh nhân nên được chia sẻ cùng với bịnh nhân. Bịnh nhân nên được phép tham gia vào một số hoạt động trong quá trình điều trị cho họ, ví dụ như số lần uống thuốc trong ngày, tính tóan một cách cẩn thận lượng calo thu vào , lượng dịch nhập vào và xuất ra.

5.3.6. Điều trị

Nhìn chung , những người bị RL nhân cách ám ảnh cưỡng bức thường nhận thức được những khó khăn mà họ đang mắc phải chứ không giống như những bịnh nhân bị các RL nhân cách khác. Những bịnh nhân này biết rằng họ không có khả năng tạo ra cho mình sự linh hoạt và chính điều đó sẽ tạo cho họ những cảm giác không thoải mái.

* Liệu pháp tâm lý cá nhân : có thể có ích nhưng liệu pháp có thể gặp khó khăn do những bịnh nhân này thường sử dụng cơ chế bảo vệ là tách biệt  cảm xúc (isolation of affect). Liệu pháp nhóm có thể có hiệu quả hơn.

* Quá trình điều trị phải chú ý đến những cảm xúc và những tình huống, không nên tốn nhiều thời gian cho việc tìm ra sang chấn tâm lý của bịnh. Không nên tạo ra những căng thẳng trong quá trình diều trị. Nếu có trầm cảm kèm theo thì phải được điều trị.

(Bài giảng CK2 tâm thần)

Hỏi bác sĩ trả lời

Để lại bình luận

Liên hệ Facebook